vendredi 25 juillet 2014

"Bàn tay đã bắn, con mắt đã nhắm, trái tim đã nghĩ..."

Cái trái tim đã nghĩ cách gài bẫy bắn hạ MH 17 ấy, là một trái tim ma cà rồng xứng đáng nhận một cái cọc gỗ nhọn, có phải không ạ? Thời nay người ta không làm thế nữa, nhưng tôi tin mọi người có lương tri đều coi đó là thằng khốn nạn, và so với nó thì cái "bàn tay đã bắn" không đáng cho mọi người truy kích, đem ra làm vật tế thần để mà che giấu đi tội ác của cái thằng khốn nguy hiểm kia đâu !

Đài Loan: ‘Chính phủ VN thiếu thành thật’

PLS : Nếu mà là Pháp, Đức hay Nhật nói câu này, thì tôi sẽ tin chắc là đúng là Việt Nam thiếu thành thật, và phải mau mau ăn năn sửa đổi thôi. (Quả thật là, trên thế giới này, ta cũng không có được nhiều tấm gương lắm về sự thành thật của các chính phủ. Có những chính phủ bự, bình thường thì cũng khá thành thật, nhưng hễ muốn trút bom đạn xuống đầu ai, là họ kiếm ra ngay được một cái cớ mà nó khiến cho sự thành thật phải choáng váng).

Nhưng mà một bác chinois nói câu này, hihi, thì tôi cũng ngẫm nghĩ một chút, xem họ xưa nay có phải là tấm gương về sự thành thật hay không, để có thể cho mình một bài học về sự thành thật hay không. Tất nhiên, là ta phải phân biệt Đài Loan với lại Trung Quốc, vì Đài Loan tiến bộ hơn, nhưng mà bản chất thì có lẽ cũng không khác nhau lắm. Đấy là chưa kể các anh Trung Quốc có khi lại mượn tay các anh Đài Loan để dạy cho Việt Nam ta một bài học về sự thành thật.

Cela dit, vì người nói câu này là một ông thủ tướng chính phủ, nên nó có sức nặng của danh dự của chính ông ấy, của chính phủ của ông ấy, và của đất nước của ông ấy. Cho nên Việt Nam ta cũng phải suy nghĩ xem có phải quả là chúng ta không được thành thật lắm hay không. Nhiều khi, cứ như là bị quỷ sứ giật lưỡi ấy, ta đi hứa vung hứa vít, sau đó đến khi phải thực hiện lời hứa, là rất mệt, bèn tìm cách chuồn luôn.


Cho nên là, nếu ta đã lỡ hứa rồi, mà bị tố cáo kêu đòi, thì chắc ta cũng phải gồng mình lên mà giữ lời chứ, hén? Coi như là một bài học, bài học quý đó nghen! Lần sau rút kinh nghiệm, trước tiên là không hứa lung tung, nhất là những vấn đề đại sự. Sau đó rút kinh nghiệm thứ hai là, đừng có hám lợi quá đáng, của rẻ là của ôi, nhiều khi lợi trước mắt mà thiệt về lâu về dài. Phải cố gắng làm ăn với những nước đàng hoàng, tuy nhiều khi không được lợi lớn lắm, nhưng mà không sợ bị thiệt.



Đài Loan: ‘Chính phủ VN thiếu thành thật’


Thủ tướng Đài Loan Giang Nghi Hoa trong cuộc phỏng vấn với BBC
Thủ tướng Giang Nghi Hoa của Đài Loan nói chính phủ Việt Nam ‘thiếu thành thật’ trong xử l‎ý bồi thường cho các doanh nghiệp Đài Loan ở Việt Nam bị thiệt hại kinh tế vì bạo động hồi tháng Năm 2014.
Trong cuộc phỏng vấn với BBC tiếng Trung ngày 21 tháng Bảy tại Đài Bắc, ông Giang Nghi Hoa nói mặc dù chính phủ Việt Nam đã có một số nỗ lực trong việc đảm bảo an toàn cho doanh nhân Đài Loan như tăng cường an ninh tại khu vực có các nhà máy của Đài Loan, phía Việt Nam làm chưa đủ trong việc giải quyết các yêu cầu bồi thường.
Thủ tướng Đài Loan cho rằng đó là vì chính phủ Việt Nam tin rằng các công ty Đài Loan nhiều khả năng sẽ không rút đầu tư của họ tại Việt Nam, và do đó có lập trường cứng rắn trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường.
Ông Giang cũng tiết lộ rằng chính phủ Đài Loan đã sẵn sàng ra tối hậu thư cho chính phủ Việt Nam và dọa sẽ đưa ra các biện pháp trừng phạt (chế tài) nếu Hà Nội không có hành động gì.

Bồi thường thiệt hại

Trong khi đó vào ngày 19/07 Bấm TTXVN đưa tin Bộ Tài chính và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tổ chức trao tiền tạm ứng bảo hiểm và hỗ trợ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh "với số tiền 20 tỷ đồng, trước mắt sẽ trao ngay 6 tỷ đồng, số còn lại các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phối hợp với khách hàng hoàn tất thủ tục để giải quyết trong một vài ngày tới."
"Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh cũng đã hỗ trợ hơn 30 tỷ đồng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Gang thép Hưng nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Đây là nguồn kinh phí cần thiết để các doanh nghiệp khắc phục một phần khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh," bài báo TTXVN cho biết
21/07 báo Bấm Wall Street Journal nói Công ty Thép Formosa Hà Tĩnh ‘sẽ nhận bồi thường 30.3 tỉ VND (1.43 triệu USD) từ chính quyền tỉnh Hà Tĩnh nội trong tuần này.
Công ty Thép Formosa Hà Tĩnh trực thuộc Formosa Plastics Group, tập đoàn hàng đầu của Đài Loan và là một trong các nhà đầu tư chính tại Việt Nam.
Công ty dự tính thiệt hại 10 triệu USD mỗi ngày do ngưng trệ xây dựng, và thêm vào đó là 3 triệu USD do hư hại thiết bị.
Một doanh nghiệp Đài Loan ở Bình Dương bị đập phá hồi tháng Năm 2014
Hồi giữa tháng Sáu, Hãng tin Đài Loan CNA đưa tin Đài Loan và Việt Nam thống nhất tổ chức gặp mặt hai lần mỗi tháng để giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại cho các doanh nghiệp Đài Loan sau vụ bạo động đầu tháng Năm và đã tiến hành cuộc gặp đầu tiên ngay hồi đầu tháng.
Các cuộc họp theo dự kiến được chủ trì bởi thứ trưởng Kinh tế Đài Loan Thẩm Vĩnh Tân và thứ trưởng Đầu tư Việt Nam Đặng Huy Đông.
Trước đó vào cuối tháng Năm, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cam kết Hà Nội sẽ có biện pháp đồng bộ để hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài.
Những hỗ trợ đó bao gồm miễn giảm thuế, miễn giảm tiền thuê đất, và trợ giúp về vấn đề lao động.
CNA cho biết vụ bạo loạn ảnh hưởng đến 425 doanh nghiệp Đài Loan, trong đó 25 doanh nghiệp bị thiệt hại nặng nề.
Tổng giá trị thiệt hại ước tính giao động trong khoảng 150-500 triệu đô la, và các thiệt hại kinh tế có liên quan là 1 tỷ đô la.
Đến thời điểm này, Formosa Plastics Group, nhà đầu tư Đài Loan lớn nhất tại Việt Nam, đang đòi chính phủ Việt Nam bồi thường 3 triệu USD sau vụ bạo loạn chống Trung Quốc.
DDK Group, một công ty Đài Loan khác chuyên sản xuất yên xe đạp gần TP. Hồ Chí Minh cũng cho biết sẽ đòi nhà chức trách Việt Nam trả 2 triệu USD trên tổng số 4 triệu USD tiền thiệt hại.
Nhiều công ty có thể sẽ có động thái tương tự sau khi con số thiệt hại cụ thể được đưa ra, theo CNA.
 http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2014/07/140724_dai_loan_noi_vn_thieu_thanh_that.shtml

jeudi 24 juillet 2014

Ukrainiens, peuple maudit !

PLS : Ukraine là một xứ được thiên nhiên ưu đãi giống như Việt Nam, vựa lúa mì lớn, có biển, vị trí chiến lược; trong lịch sử chắc dân của họ cũng ít khi bị chết đói, thế mà không hiểu sao họ độc ác hơn dân Việt Nam. Trong lịch sử, họ đã làm nhiều điều tàn bạo với dân thường, ngay trong thời hiện đại họ vẫn tiếp tục làm như vậy. Họ bắn tỉa giết dân thường và cảnh sát trên quảng trường Maidan, họ lừa giết người thân Nga trong tòa nhà Odessa, họ đưa vũ khí hạng nặng bắn giết các thành phố, trong khi dân ở đấy không hề tấn công họ... Vụ bẫy hạ máy bay MH 17 là giọt nước làm tràn cốc, nó cho thấy tâm địa khốn nạn của một dân tộc bị nguyền rủa !

Tôi đoán là vì ở Ukraine, phụ nữ của họ ngu ngốc và ít học. Họ chỉ biết quyến rũ đàn ông và hám tiền, khiến cho bọn đàn ông của họ phát điên phát cuồng lên. Bây giờ lại được sự trợ giúp của Mỹ, là một dân tộc không có lịch sử, lịch sử vài trăm năm của Mỹ, với tổ tiên họ là quân trộm cướp, đã không tiến hóa được bao xa. Dân châu Âu có bề dày văn hóa, Pháp, Đức... họ cư xử chừng mực hơn.


Quân ly khai tố bị Ukraina gài bẫy bắn MH17

Reuters dẫn lời một lãnh đạo quân ly khai ở miền đông Ukraina thừa nhận họ có sở hữu hệ thống phòng không Buk – loại mà Washington nói đã bắn hạ máy bay MH17 của Malaysia, đồng thời cáo buộc Kiev đã dựng nên bối cảnh một cuộc không kích vào đúng thời điểm MH17 bay qua đông Ukraina.

Trả lời phỏng vấn của Reuters, Alexander Khodakovsky – chỉ huy tiểu đoàn Vostok lần đầu tiên thừa nhận rằng phe nổi dậy có sở hữu hệ thống phòng không đất đối không Buk do Nga sản xuất.
Ukraina, ly khai, Malaysia, MH17 
Alexander Khodakovsky – chỉ huy tiểu đoàn Vostok thuộc phe ly khai ở đông Ukraina trong một buổi trả lời phỏng vấn. Ảnh: Reuters.
Khodakovsky nói rằng hệ thống này sau đó đã được trả lại ngay lập tức để dấu đi chứng cứ về sự có mặt của nó tại gần hiện trường máy bay rơi.
Trước đó, các lãnh đạo phe ly khai ở đông Ukraina phủ nhận thông tin họ có hệ thống này, và nói nếu có Buk, thì họ cũng không có khả năng sử dụng.
Khodakovsky cáo buộc chính quyền Kiev đã gây hấn, tạo nên bối cảnh một cuộc không kích dẫn đến hậu quả là chiếc máy bay dân sự đã bị bắn nhầm. Ông này cũng nói rằng Kiev đã cố ý tiến hành nhiều vụ không kích trong khu vực, và biết rõ khu vực này có các tên lửa.
"Tôi biết là Buk có từ Lugansk. Vào lúc đó, tôi được biết là Buk từ Lugansk đang tới dưới danh nghĩa của LNR (Cộng hòa Nhân dân Lugansk)”.
“Tôi biết về hệ thống Buk này là gì. Tôi đã nghe về nó. Tôi nghĩ là họ đang gửi trả lại. Bởi vì tôi phát hiện ra nó vào đúng cái lúc tôi nghe tin về thảm kịch này xảy ra. Họ chắc là đã gửi trả lại hệ thống này nhằm di dời chứng cứ” - Khodakovsky nói.
“Câu hỏi là: Ukraina nhận được chứng cứ cho thấy quân tình nguyện (quân ly khai) có được công nghệ này rất đúng lúc, do sai sót của phía Nga. Họ đã chẳng những không làm gì để bảo đảm an ninh, mà lại còn khiêu khích việc sử dụng loại vũ khí này để chống lại một chiếc máy bay dân sự bay qua đây cùng với những người dân vô tội”.
Khodakovsky nói thêm: “Họ biết rõ rằng Buk có mặt ở đây và đang trên đường đi tới Snezhnoye", nơi này cách hiện trường vụ rơi máy bay 10km về phía tây.
“Họ (chính quyền Kiev)  biết rằng hệ thống có thể triển khai ở đây, và khiêu khích sử dụng Buk bằng việc khởi động một cuộc không kích vào một mục tiêu mà họ không cần tới, và các máy bay của họ không hề được sử dụng suốt cả tuần qua”.
Ukraina, ly khai, Malaysia, MH17
Nga công bố các bức ảnh chụp từ vệ tinh, cho thấy các đơn vị phòng không tên lửa Buk ở vùng Donetsk, cách thành phố Donets 5km về phía bắc. Ảnh chụp ngày 14/7. Nhưng cũng tại khu vực này ngày máy bay Malaysia bị bắn trúng 17/7, các hệ thống này đã biến mất. Ảnh: RT
“Và vào ngày hôm đó, họ tăng cường bay, và vào đúng lúc khai hỏa, đúng thời điểm máy bay dân sự bay qua đây, họ tiến hành không kích. Thậm chí ngay cả khi có một hệ thống Buk, và hệ thống này được sử dụng đi chăng nữa, Ukraina đã làm mọi điều để đảm bảo  rằng chiếc máy bay dân sự đó phải bị bắn hạ”.
Mới đây, Nga công bố bằng chứng cho thấy máy bay chiến đấu của Ukraina đã bay sát MH17 trong một thời gian ngắn trước khi MH17 bị bắn hạ.
Theo nguồn tin từ phía hàng không dân dụng công bố trước đó, MH17 được yêu cầu hạ độ cao khi bay qua vùng trời đông Ukraina.
Tên lửa từ Nga?
Người phát ngôn Lầu Năm Góc Eileen Lainez nói rằng những lời của Khodakovsky xác nhận một điều là ‘những người ly khai do Nga hậu thuẫn đã có được vũ khí, tập huấn và hỗ trợ từ phía Nga’.
Bà Lainez bác bỏ việc quân ly khai tố chính quyền Kiev dàn dựng nên vụ tấn công.
Quan chức tình báo Mỹ trước đó nói rằng Washington tin là những người này đã bắn hạ máy bay ‘vì nhầm lẫn’, do không nhận ra rằng đây là một máy bay dân sự.
Khodakovsky nói rằng đơn vị của ông chưa từng có Buk, nhưng có thể các đơn vị ly khai khác đã sử dụng hệ thống này.
Ukraina, ly khai, Malaysia, MH17
Bộ Quốc phòng Nga đưa ra chứng cứ cho thấy máy bay chiến đấu Su-25 của Ukraina đã bay áp sát MH17 trước khi máy bay Malaysia bị bắn hạ. Ảnh: RT
Khodakovsky nói rằng trước kia, họ cũng chiếm được Buk từ các lực lượng quân đội Ukraina, nhưng các hệ thống này không thể vận hành được. Ông không chắc là hệ thống Buk đã bắn hạ máy bay Malaysia có nguồn gốc từ đâu, nhưng nói rằng hệ thống này cũng có thể do phía Nga cung cấp.
“Tôi không nói là Nga có cung cấp những thứ này hay không. Nga cũng có thể cung cấp hệ thống Buk này trong một vài ý tưởng hoàn toàn mang tính chất địa phương. Tôi muốn có một hệ thống Buk, và nếu ai đó mang lại cho tôi, tôi cũng không từ chối. Nhưng tôi sẽ không sử dụng nó để chống lại một thứ gì đó không hề đe dọa tới tôi. Tôi sẽ chỉ dùng nó trong các bối cảnh mà một cuộc không kích nhằm thẳng vào vị trí của tôi, để bảo vệ mạng sống của người dân”.
Khodakovsky nói: “Tôi là một bên liên quan. Tôi là một ‘tên khủng bố’, một ‘kẻ ly khai’, một người tình nguyện… Trong bất kỳ mọi tình huống, tôi được yêu cầu để thúc đẩy cho lực lượng mà tôi đại diện, ngay cả khi tôi có ý nghĩ khác, hoặc nói theo cách khác hoặc có quan điểm khác. Điều này khiến tâm hồn tôi luôn nhức nhối”.
 http://vietnamnet.vn/vn/quoc-te/187720/quan-ly-khai-to-bi-ukraina-gai-bay-ban-mh17.html
Lê Thu

mardi 22 juillet 2014

Bẫy máy bay

Mọi người đang bận tâm xem ai đã bắn hạ cái máy bay MH 17. Còn tôi thì nghĩ rằng là chính quyền Kiev đã lừa cái máy bay ấy vào bẫy để nó bị bắn hạ. Họ đã chuẩn bị sẵn tất cả để chờ thời cơ. Xui xẻo cho cái máy bay malaisien là màu sắc của nó giống với màu máy bay ukraine, nên nó bị chọn. Bọn điều khiển không lưu đã điều chỉnh cho nó bay vào chỗ mà lẽ ra nó không bay, đã cho máy bay lên kèm để nó bay thấp xuống và bay chậm lại, để quân ly khai tưởng là nó định ném bom. Vì bọn Kiev biết là quân ly khai có tên lửa BUK (do quân Ukraine để mất vào tay họ). Vẫn là cùng một kịch bản như vụ lừa người vào để giết trong tòa nhà Odessa có phải không? Sở trường của chúng đúng không? Quân ma cà rồng khát máu ! Đời người ăn được bao nhiêu chocolat mà dã man độc ác thế?

dimanche 20 juillet 2014

Michel-Ange, poème

Désormais le cours de ma vie,
traversant la tempête sur un frêle vaisseau,
touche au port où chacun vient pour rendre
compte et raison de son ouvrage, triste ou pieux.

Si bien que la passion, la fantaisie
qui firent de l'art mon idole et mon roi,
je sais combien elles furent chargées d'erreur,
comme l'homme toujours désire contre son bien.

Les pensées amoureuses, belles, joyeuses,
que deviennent-elles si j'approche deux morts,
certain de l'une, et par l'autre menacé ?

Ni peindre ni sculpter n'apaiseront
mon âme, tournée  vers cet amour divin
qui ouvrit, pour nous embrasser, les bras en croix.

(par Michelangelo Buonarroti - Extrait de l'ouvrage de C. Ossola, L'avenir de nos origines. Le copiste et le prophète)

samedi 19 juillet 2014

Thử đưa một giải pháp nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa giữa VN và TQ, nhân vụ giàn khoan 981

PLS : Hehe, cắt dán bài đem về blog mình, không thèm xin phép, hy vọng là cao nhân thì tính tình cũng không nhỏ mọn như những kẻ tầm thường !

Không biết ai có thể phản biện được ngài Trương Nhân Tuấn nhỉ? Luật sư Nguyen Le-Hà chắc chỉ đáng giúp việc cho ngài ấy thôi. Còn các ông luật sư Cù và L
ê, chẳng biết các ông ấy học hành thế nào, hay là chữ thày lại đem trả cho thày rồi? Mọi người hiếm khi được chiêm ngưỡng tài năng của các ông ấy lắm !!

Tôi chỉ không khoái cái đề nghị của ông T. N. Tuấn về vụ chia đôi Hoàng Sa cho ta và Trung Quốc ! Không chia chác gì cả, nếu cần thì ta lại giằng co, tranh chấp tiếp. Còn ông Lê Hoài Trung muốn cùng Trung Quốc khai thác dầu, thì nghe muốn uýnh ổng luôn, nhưng nếu cứ nhất định muốn vậy (kẻo các bác thân Tàu lại điên lên bán nước), thì điều kiện cần phải là, ta phải có hiệp ước liên minh với Mỹ, để nếu dân tộc Trung Hoa bao đời nổi danh lừa đảo lại trở mặt, thì ta không có nắm dao đằng lưỡi. Liên minh với Mỹ trước đi, rồi Trung Quốc muốn khai thác dầu cùng với ta, thì ta cũng cho một ít.

Thử đưa một giải pháp nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa giữa VN và TQ, nhân vụ giàn khoan 981

 Các mục tiêu (không tiềm ẩn) của TQ trong vụ đặt giàn khoan HD 981 trong vùng biển của đảo Tri Tôn, thuộc Hoàng Sa của Việt Nam, từ đầu tháng 5-2014, là :
-   Khẳng định chủ quyền của TQ tại quần đảo Hoàng Sa.
-   Thăm dò thái độ VN trong việc xác định ranh giới biển của quần đảo Hoàng Sa.
-   Xác định trữ lượng dầu khí dưới thềm lục địa trong vùng lưu vực sông Hồng (lưu vực sông Hồng trải dài từ các cửa các nhánh sông Hồng ở miền Bắc, trải dài cho đến các tỉnh miền Trung). Việc khảo sát này đã được thực hiện đồng bộ cùng lúc với những giàn khoan khác của TQ, đặt rải rác trong vùng cửa vịnh Bắc Việt.

-   Chuẩn bị cho việc tuyên bố «vùng nhận diện phòng không» của TQ trong biển Hoa Nam (tức Biển Đông theo VN). Đây là phần quan trọng nhất còn thiếu trong chiến lược phòng ngự hải dương của TQ.
Sự hiện diện của giàn khoan HD 981 trong thềm lục địa VN đã đưa lãnh đạo VN vào thế tiến thoái lưỡng nan, lúng túng. Những tuyên bố mâu thuẫn với nhau giữa các lãnh đạo tối cao trong thời gian qua cho ta thấy có sự bất đồng ý kiến sâu xa trong nội bộ đảng về phương pháp ứng xử với TQ. Dầu vậy, trên quan điểm thuần túy chiến lược, có lẽ phía Trung Quốc đã tính toán sai mà việc này có thể mở ra cho VN một cơ hội để giải quyết nhiều khó khăn trong việc lựa chọn đồng minh. Trong khi việc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, đã bị dư luận thế giới bỏ quên từ bốn thập niên nay, thì được hâm nóng lại.
Từ lâu, phía TQ một mực phủ nhận mọi hiện hữu về một tranh chấp chủ quyền ở vùng lãnh thổ này. Vừa qua ta thấy TQ lu loa đưa bằng chứng tố cáo VN trước Liên Hiệp Quốc. Rõ ràng đây là một «cơ hội» để VN đặt lại toàn bộ vấn đề chủ quyền Hoàng Sa với Trung Quốc trước dư luận quốc tế. Hành vi TQ đặt giàn khoan 981 trên thềm lục địa của VN, cũng như tranh chấp chủ quyền biển đảo, có thể sẽ giải quyết bằng một phương cách có lợi cho Việt Nam, vừa phù hợp với thực tế lịch sử cũng như quốc tế công pháp.
Tuy vậy VN vẫn án binh bất động.
Phía TQ vừa tuyên bố cho rút lui giàn khoan HD 981, lý do thời tiết, tránh cơn bão Rammasun. Hành động này có thể sẽ khép lại cách cửa cơ hội (giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo) của VN.
Thái độ của VN (xem việc giàn khoan rút lui) như là một chiến thắng (về ngoại giao) là không phù hợp. Trong vụ này, ngoài Phi lên tiếng ủng hộ VN, các nước khác trong khối ASEAN đều im lặng, cũng như phần còn lại của thế giới. Hoa Kỳ và Nhật lên tiếng phản đối TQ trong vụ giàn khoan HD 981, là vì TQ làm thay đổi nguyên trạng Biển Đông. Việc này đe dọa cho an ninh và quyền lợi kinh tế của họ (và các nước đồng minh của họ).
Như đã phân tích, mục tiêu của TQ có nhiều: dò tìm dầu khí, khẳng định chủ quyền, thăm dò thái độ của VN về đường ranh giới biển và thiết lập vùng nhận diện phòng không. Bước kế tiếp của TQ chắc chắn sẽ mạnh bạo hơn giàn khoan 981, sẽ càng làm cho VN khó xử. Vì vậy VN cần phải chuẩn bị những bước đi thích hợp để đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra.
Theo tôi, không gian cơ hội của VN tuy đang khép lại, nhưng chuyện vẫn còn đang nóng, VN có thể nắm lấy và khai thác ngay bây giờ, mục đích làm cản trở mọi dự tính sau này của TQ. Điều quan trọng là VN phải khai thác «cơ hội» như thế nào?
Dĩ nhiên là vấn đề tranh chấp biển đảo giữa VN và TQ, VN chỉ có thể có ưu thế nếu đưa vấn đề tranh chấp ra trước một trọng tài quốc tế. Như thế hồ sơ về chủ quyền là quan trọng hàng đầu.
Theo tôi, lập trường pháp lý của VN hiện nay có một số điều cần điều chỉnh lại.
1/ Theo quan điểm chính thức của VN hiện nay (cũng như lập trường của hầu hết học giả VN), VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập, có chủ quyền.
Theo tôi, quan niệm như vậy, VN hôm nay (và VN của thế hệ tương lai) sẽ không có «tư cách pháp nhân» nào để đứng ra kiện TQ (ra tòa CIJ hay một Tòa quốc tế nào đó) về các tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa.
Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trên tay VNCH (với lý do: giải phóng một vùng lãnh thổ đang bị ngoại nhân chiếm đóng). VNDCCH là một quốc gia thứ ba, hoàn toàn xa lạ với VNCH. Còn CP CMLTMNVN không thể kế thừa HS từ VNCH, vì không thể kế thừa một lãnh thổ đã mất.
(Đó là chưa nói tới thực thể chính trị MTGPMN được thành lập do một nghị quyết của đảng CSVN, tức chỉ là một «công cụ» chính trị của VNDCCH.)
Trong khi đó, «quốc gia» tiền nhiệm VNDCCH đã nhiều lần bày tỏ thái độ (và lập trường) ủng hộ chủ quyền của TQ tại HS và TS. Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là một tuyên bố đơn phương, nội dung mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS. Một số những dữ kiện khác như các bài báo, sách vở, tài liệu, bản đồ… do phía VNDCCH xuất bản củng cố yếu tố đồng thuận (acquiescement) của công hàm 1958. Tệ hơn cả là vào thời điểm 17-1-1974 lúc TQ chiếm HS, chính phủ VNDCCH im lặng trong khi các nước như Liên Xô, Mỹ... phản đối hành vi sử dụng vũ lực của TQ. Hành vi im lặng, đối với công pháp quốc tế, được hiểu như là sự đồng thuận ám thị (TQ giải phóng một lãnh thổ bị chiếm đóng). Còn phía  MTGPMN tuyên bố rằng các tranh chấp phải được giải quyết bằng thương thuyết. Thực thể chính trị này (cũng như VNDCCH) từ chối ký tên chung với VNCH trong bản tuyên bố lên án TQ xâm lăng.
Khi có tư cách pháp nhân là «quốc gia», VNDCCH là đối tượng của công pháp quốc tế. Các hành vi (có thể quy vào việc từ bỏ chủ quyền HS và TS cho TQ) của VNDCCH cũng sẽ quy thuộc về phạm vi quốc tế.
Việc kế thừa cũng vậy. Khi nhìn nhận VNCH và VNDCCH là hai quốc gia «độc lập, có chủ quyền» thì việc kế thừa, sau 1975, là «kế thừa quốc gia với quốc gia». Quốc gia là đối tượng của quốc tế công pháp, việc kế thừa quốc gia do đó cũng là vấn đề thuộc quốc tế công pháp. Quốc gia kế tục (CHXHCNVN) có quyền lợi (cũng như nghĩa vụ) kế thừa di sản kinh tế và chính trị của hai quốc gia tiền nhiệm, theo như qui định của luật quốc tế (các Công ước Vienne 1969 và 1978). Giả sử rằng CPLT CHMNVN không gặp khó khăn (về pháp lý) để kế thừa danh nghĩa chủ quyền HS từ VNCH. Thì quốc gia CHXHCNVN cũng không thể cùng lúc kế thừa hai lập trường đối nghịch: HS và TS là của VN (VNCH) và HS TS là của TQ (VNDCCH). Việc kế thừa HS và TS sẽ gặp bế tắc.
Như vậy, khi cho rằng VNCH (và VNDCCH) là hai quốc gia «độc lập, có chủ quyền», vấn đề tranh chấp Hoàng Sa sẽ không còn hiện hữu. VN hiện nay (cũng như các thế hệ VN trong tương lai) sẽ không có cách nào để thuyết phục dư luận quốc tế rằng «có tranh chấp» tại Hoàng Sa, chứ đừng nói đòi lại.
2/ Về hiệu lực công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, chủ trương (chính thức) của VN (cũng như nhiều học giả VN), công hàm 1958 chỉ nói về hiệu lực hải phận 12 hải lý (chứ không đề cập đến vấn đề chủ quyền).
Nhìn nhận như thế là đã mặc nhiên nhìn nhận hiệu lực pháp lý của công hàm này (cho dầu chỉ nhìn nhận ở nội dung hải phận 12 hải lý).
Về nội dung công hàm 1958, tác giả của nó là ông Phạm Văn Đồng đã nhìn nhận: «lúc đó là thời chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy». Dữ kiện này đã được báo chí quốc tế ghi chép lại (tờ Far Eastern Economic Review ngày 10-02-1994). Sau này ông Nguyễn Mạnh Cầm cũng có trả lời báo chí, nội dung tương tự.
Tức là công hàm 1958 nhìn nhận tuyên bố của TQ về hải phận 12 hải lý ở các đảo, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa.
Vấn đề là công pháp quốc tế có luật về «thời hiệu – contemporaneité». Theo án lệ Tòa Công lý Quốc tế 9-10-1998 về tranh chấp hai nước Yemen và Erythrée về chủ quyền một số đảo trong biển Hồng Hải. Về số phận đảo Mohabbakah, Tòa phán giao cho Erythrée với lý do đảo này nằm trong vùng lãnh hải 12 hải lý của nước này. Bởi vì, theo công ước Lausane được ký kết giữa các bên liên quan (hay nhà nước tiền nhiệm của các bên), thừa nhận rằng các đảo nào nằm trong vùng lãnh hải của nước nào thì đảo đó thuộc về nước đó. Thời kỳ đó lãnh hải chỉ có 3 hải lý. Tòa đã dựa lên lý thuyết về tính «thời hiệu - contemporanéité», áp dụng hiệu lực lãnh hải từ 3 hải lý lên 12 hải lý (theo Luật biển 1982), để lấy quyết định này.
Suy luận tương tự, tuyên bố về hải phận của Trung Quốc năm 1958 phù hợp Luật biển 1958 (chưa có khái niệm về vùng Kinh tế độc quyền ZEE). Tuyên bố này sẽ được nhìn nhận hiệu lực chiếu theo nội dung của Luật biển 1982 (có khái niệm về ZEE 200 hải lý). Tức là, ngoài lãnh hải 12 hải lý, bờ biển và các hải đảo của TQ sẽ được hưởng vùng kinh tế độc quyền (ZEE) 200 hải lý, đúng theo nội dung của Luật biển 1982.
Điều này thể hiện trên thực tế, VN đã tôn trọng như vậy.
Vấn đề là hiệu quả 200 hải lý ZEE có thể áp dụng cho các đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không?
3/ Để hóa giải những bế tắc đem lại do việc chủ trương «có hai quốc gia VN trong thời kỳ 1954-1976», hay do hiệu lực công hàm 1958, tôi có đề nghị như sau :
Lãnh đạo VN, cũng như các sử gia, học giả VN, cần gác bỏ cái lăng kính chính trị để nhìn nhận lịch sử theo đúng sự thật của nó. Sau đó áp dụng tinh thần Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1973, ta sẽ thấy mọi vấn đề về kế thừa về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, hay về hiệu lực công hàm 1958, đều có thể được giải quyết một cách êm thắm, thuận theo lý lẽ của công pháp quốc tế.
Theo tinh thần hai hiệp định quốc tế này, hai thực thể chính trị VNCH và VNDCCH không phải là hai «quốc gia độc lập, có chủ quyền».
Trên phương diện thực tế và lịch sử, 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève quyết định phân chia quốc gia VN thành hai miền tại vĩ tuyến 17. Hiệp định nhấn mạnh việc phân chia chỉ tạm thời, đường vĩ tuyến 17 trong bất kỳ trường hợp nào, không thể xem đó là đường biên giới phân định lãnh thổ hay chính trị. Hai miền Nam và Bắc lần lượt mang tên Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nội dung Hiệp định Genève xác nhận VN là một nước «độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất».
Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.
Hiệp định Paris năm 1973 xác định lại nội dung hiệp định Genève 1954: «VN là một nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất».
Cả hai hiệp định này đều được bảo trợ của Trung Quốc, cũng như các cường quốc Mỹ, Anh, Pháp…
Năm 1956 VNCH công bố Hiến pháp, điều 1 khẳng định : VN là một nước cộng hòa, độc lập, thống nhất và bất khả phân. Về phía VNDCCH, Hiến pháp 1946, điều 2 xác định VN là một khối thống nhất bắc, trung, nam không thể phân chia. Hiến pháp 1959, những dòng đầu đã khẳng định VN là một nước thống nhất từ Lạng Sơn đến Cà Mau.
Cả hai miền như vậy đều tôn trọng nội dung hiệp định Genève 1954: Việt Nam là một quốc gia thống nhất (ba miền) độc lập và có chủ quyền.
Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước VN duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.
Tức là, trên thế giới chỉ hiện hữu một quốc gia VN duy nhất. Hai thực thể VNCH và VNDCCH, nói theo ngôn ngữ công pháp quốc tế, là hai «quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel».
Ngoài ra, thời điểm phát xuất công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng, phía VNDCCH vẫn còn có nguyện vọng thống nhất đất nước. Nhiều lần phía VNDCCH hối thúc VNCH, cho đến năm 1960, thương nghị giữa hai miền để tiến tới thống nhất Việt Nam theo nội dung của Hiệp định Genève 1954.
Như vậy, trên quan điểm công pháp quốc tế, nước VN chỉ có một, thống nhất ba miền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, có chủ quyền.
Trên tinh thần đó, bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), như công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cũng như một số các hành vi khác của VNDCCH trong khoảng thời gian 1954-1976 (có thể diễn giải là hành vi từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa), vì đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại nội dung các hiệp định quốc tế 1954 và 1973, do đó chúng đều không có giá trị pháp lý.
Tức là công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng được hóa giải một cách dễ dàng, đúng theo tinh thần trọng luật của công pháp quốc tế.
Về vấn đề kế thừa, hai thực thể chính trị VNCH và VNDCCH chỉ là hai miền thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất, việc kế thừa lại là việc «nội bộ» của quốc gia, không thuộc phạm vi công pháp quốc tế. Danh nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS do đó được giữ liên tục, từ thời các vua chúa VN, sang đến thời thuộc Pháp, thuộc Nhật, hay đồng minh quản lý, cuối cùng chuyển sang VNCH sau đó là VN hôm nay.
4/ Về vấn đề kiện tụng Trung Quốc về vụ giàn khoan HD 981 cũng như về tranh chấp chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều học giả đã lên tiếng yêu cầu VN xúc tiến kiện TQ. Nhưng chưa thấy đề nghị nào cụ thể VN sẽ kiện TQ về cái gì? kiện lên tòa nào?
Kiện tụng là một việc phiêu lưu, VN có thể thắng, có thể thua. Trong khi phía TQ bảo lưu ở LHQ sẽ không chấp nhận bất kỳ một trọng tài nào giải quyết tranh chấp lãnh thổ (hay những vấn đề liên quan đến lãnh thổ). Vì vậy không gian pháp lý của VN rất là hẹp. Các học giả, luật gia VN cần phải tìm ra giải pháp kiện thế nào để vừa không bị tòa bác đơn do các bảo lưu của TQ, vừa không bị thua kiện do hồ sơ quá yếu.
Cá nhân tôi đã có một đề nghị đã công bố, ghi lại ở đây :
VN đệ đơn đề nghị Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) tuyên bố một số điều :
-   Việc chiếm hữu một lãnh thổ bằng phương pháp vũ lực là vi phạm các nguyên tắc cơ bản của LHQ.
-   Việc chiếm hữu các đảo ở Trường Sa (lập danh sách chi tiết các đảo) năm 1988 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.
-   Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa tháng giêng năm 1974 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.
Nếu cần thiết (để mở cho Trung Quốc một bước lùi chiến lược), kiện TQ về lý do :
-   Vi phạm nội dung Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Việt 30-12-2000 về việc chủ trương hiệu lực các đảo, áp dụng cho việc phân định ngoài cửa vịnh Bắc Việt.
Ba điều đầu tiên yêu cầu Tòa tuyên bố hoàn toàn thuộc về quyền của quốc gia Việt Nam, là thành viên các công ước và các nguyên tắc cơ bản của LHQ. Đồng thời việc giải thích nội dung các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Tòa CIJ. (Các điều ước quốc tế liên quan gồm : Công ước Drago-Porter 1907, Hiến chương LHQ điều 2 khoản 4 ngày 26-6-1945, hay Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ 18-11-1987). Đặc biệt các yêu cầu này không liên quan đến các bảo lưu của TQ về việc phân giải tranh chấp chủ quyền bằng trọng tài quốc tế.
Mục đích việc yêu cầu Tòa tuyên bố, nếu thành công (điểm 3), sẽ đưa quần đảo Hoàng Sa (không có tranh chấp, theo TQ) vào tình trạng «có tranh chấp».
Nếu VN thua, tức Tòa không tuyên bố (không có ý kiến), thì VN cũng không có gì để mất. Trong vụ yêu cầu Tòa tuyên bố này không hề nói đến chủ quyền các đảo (HS và TS) là của ai, mà chỉ nói đến việc nhìn nhận hay không nhìn nhận, danh nghĩa chủ quyền nếu việc chiếm hữu thực hiện bằng vũ lực.
Còn nếu thắng (xác suất thắng là rất cao), VN được nhiều thứ.
Theo tập quán quốc tế, «đất thống trị biển». Nếu các đảo Hoàng Sa là lãnh thổ «có tranh chấp» thì vùng biển phát sinh từ nó cũng có tranh chấp.
Vị trí giàn khoan 981 có thể được xem nằm trong vùng biển «có tranh chấp» mà  tranh chấp này phát sinh từ chủ quyền các đảo HS chứ không phải phát sinh do chồng lấn hải phận (giữa bờ biển VN với các đảo HS, theo như lập luận của TQ hiện nay).
Theo thông lệ quốc tế, nếu lãnh thổ có tranh chấp, việc giải quyết thường là chia hai (hay cộng đồng khai thác), mỗi bên được một phần của lãnh thổ đó. Tức là, quần đảo HS có thể chia hai, thí dụ hai nhóm Nguyệt Thiềm và An Vĩnh. VN có thể nhận nhóm Nguyệt Thiềm (phía tây) và giao cho TQ nhóm An Vĩnh (phía đông). Hải phận sinh ra do quần đảo này do đó cũng sẽ chia hai.
Đó là cái lợi thứ nhất.
Cái lợi thứ hai ở Trường Sa. Nếu tòa tuyên bố, thì TQ không có chủ quyền tại các đảo của VN tại TS. TQ sẽ không thể tuyên bố vùng «nhận diện phòng không» trong khu vực này được.
Cái lợi thứ ba, là VN dành được tính «chính đáng». Nhiều người cho rằng các phán quyết của Tòa cũng không làm gì, nếu TQ không tuân thủ.
Theo tôi, phán quyết của Tòa có tầm quan trọng rất lớn. Trong vụ giàn khoan HD 981, nếu TQ không rút giàn khoan, VN có thể dùng các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình. Việc «bảo vệ» ở đây mang tính tự vệ chính đáng, được hiến chương LHQ công nhận.
Đây là một việc làm ít tốn kém, đáng lẽ không cần phải đưa ra một tổ hợp luật sư nào. Tuy nhiên, để nắm chắc phần thắng, đơn không bị bác do lỗi thủ tục, VN nên thông qua một tổ hợp luật sư chuyên môn ở HK.
5/ Lá thư của ông Lê Hoài Trung, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của VN tại LHQ, gởi TTK LHQ ngày 3-7-2014 vừa qua, nội dung cho thấy đã có một số thay đổi sâu sắc về lập trường chính thức của VN về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.
Điểm thứ nhất, nhà nước CHXHCNVN hôm nay đã lấy làm tài liệu (các hành vi hành sử chủ quyền) của quốc gia VN tại HS và TS trong quá khứ. Điển hình nhắc lại lời tuyên bố của Thủ tướng Trần Văn Hữu tại Hội nghị San Francisco 1951.
Tại Hội nghị San Francisco, Quốc gia VN tham dự do Hoa Kỳ mới, với tư cách một quốc gia độc lập, «có tuyên bố chiến tranh với Nhật».
Việt Nam là một bên ký kết với Nhật hiệp ước hòa bình San Francisco 1951. Nhật đã phải bồi thường chiến tranh cho VN, bằng các hình thức viện trợ và công trình xây dựng (như đập thủy điện Đa Nhim).
Điều này khẳng định tư cách pháp nhân của quốc gia Việt Nam (độc lập, có chủ quyền) ở thời điểm đó, trước sân khấu quốc tế. Điều này quan trọng, tuyên bố của ông Trần Văn Hữu có giá trị pháp lý hay không là do tư cách pháp nhân của Quốc gia VN trước Hội nghị.
Thứ hai, cũng trong thư này ông Lê Hoài Trung đã sử dụng các ý kiến của tôi đã bộc lộ trên facebook, blog… trước đây (được viết lại trong bài này): dùng hiệu lực của các hiệp định Genève 1954 và Paris 1973 để hóa giải hiệu lực công hàm 1958 cũng như nhấn mạnh việc chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực, theo công pháp quốc tế, sẽ không đem lại chủ quyền cho TQ.
Dĩ nhiên đây là điều hãnh diện cho cá nhân, nhưng tôi cho rằng công việc sẽ chẳng đi đến đâu, nếu VN không nhanh chóng dành lấy “cơ hội” này để đưa tranh chấp ra một tòa án quốc tế.

Trương Nhân Tuấn.
http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/07/thu-ua-mot-giai-phap-nham-giai-quyet.html

vendredi 18 juillet 2014

Ai đã KHÔNG bắn hạ MH 17?

Trước tiên là câu hỏi : Ai đã bắn hạ MH 17 ? Câu trả lời là : Kẻ nào có tên lửa BUK. Ai chính thức có tên lửa BUK? Trả lời : Nga và Ukraine. Đến đây thì bí nên ta hỏi cách khác : Ai đã KHÔNG bắn hạ MH 17? Câu trả lời là : Nga, vì Nga đang hết sức tránh gây chiến; Nếu muốn gây chiến, Nga chỉ việc đưa quân vào giữ miền Đông Ukraine.

Hỏi tiếp : Ukraine có thể bắn hạ MH 17 không? Câu trả lời là : Có thể; bởi vì cái quân phát xít ngu xuẩn chuyên giết người ấy, thì chúng có thể làm bất cứ điều gì.

Hỏi tiếp : Quân ly khai có thể bắn hạ MH 17 không? Có thể, nếu họ có tên lửa BUK. Nếu họ có, thì ở đâu ra? Cũng có thể từ Nga, nhưng Nga không thừa tiền và cũng không bất cẩn để cung cấp vũ khí một cách dễ bị phát hiện như thế. Chắc chắn hơn (và cũng có bằng chứng), là quân ly khai cướp được tên lửa BUK từ quân đội Ukraine.

Hỏi tiếp : quân đội Ukraine đem tên lửa BUK đến Donesk để làm gì? Hiển nhiên là để trút lên đầu quân ly khai, kể cả dân thường. Thế cũng là dân thường, cũng là trẻ con Ukraine chết, mà sao bọn Quốc tế khốn nạn cứ im ỉm không nói gì? Đến khi người của chúng chết, thì chúng rúng động lên, đòi những là ngưng bắn ngay lập tức, điều tra ngay lập tức? Thế sao không ngưng bắn sớm hơn đi? Thế sao không điều tra vụ Odessa đi?

Kết luận, mạng dân Ukraine rẻ hơn mạng dân Quốc tế, chúng có chết mọi người cũng kệ cha chúng, chẳng ai thèm bận tâm. Cho nên chúng phải tự giữ lấy mạng mình thôi, đúng không?