Affichage des articles dont le libellé est Rousseau. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est Rousseau. Afficher tous les articles

jeudi 2 juin 2016

Emile gặp Sophie

(Quyển năm : Sophie hay là người nữ)

Khi nghe đến tên Sophie, hẳn bạn sẽ thấy Émile rùng mình. Bị choáng bởi một cái tên thân thương đến thế, chàng giật mình thức tỉnh, và ném một ánh nhìn háo hức lên người nữ nào dám mang tên ấy. Sophie, ôi Sophie ! Có phải chính là em mà trái tim tôi tìm kiếm? Có phải em là người mà tim tôi yêu ? Chàng quan sát nàng, chàng chiêm ngưỡng nàng với môt tình cảm lo sợ và ngờ vực. Chàng không thấy được chính xác gương mặt mà chàng đã tự vẽ nên; chàng không rõ gương mặt mà chàng trông thấy hay hơn hay là kém. Chàng nghiên cứu từng đường nét, chàng rình mò từng cử động, từng cử chỉ; chàng tìm thấy cả ngàn diễn giải rối bời cho mọi điều ấy; chàng sẵn sàng cho đi một nửa cuộc đời mình để làm cho nàng muốn nói dù chỉ một lời thôi. Chàng nhìn tôi, lo lắng và bối rối, mắt chàng hỏi tôi trăm câu hỏi, trăm lời trách móc. Chàng dường như nói với tôi qua mỗi ánh nhìn : Hãy dẫn dắt con trong khi mà còn thời gian. Nếu trái tim con trao đi và nhầm lẫn, con sẽ không bao giờ trở lại được như xưa nữa.

Émile là chàng trai biết ngụy trang kém nhất trên đời. Làm sao mà chàng tự che giấu mình được khi đang mắc vào nỗi bối rối lớn nhất đời mình, giữa bốn khán giả đang săm soi mình, mà mỗi cái vẻ bề ngoài thờ ơ nhất của họ thực ra đều là chăm chú nhất? Sự rối loạn của chàng chẳng hề thoát khỏi cặp mắt xuyên thấu của Sophie; mắt chàng bảo thêm cho nàng rằng nàng là đối tượng của sự bối rối ấy : nàng thấy rằng nỗi lo âu này còn chưa phải là tình yêu; nhưng điều đó thì có quan trọng gì? Chàng quan tâm đến nàng, và như vậy là đủ : nàng sẽ rất buồn khổ nếu chàng quan tâm đến nàng mà không hề khổ sở gì.

Các bà mẹ có đôi mắt giống như con gái của họ, và thêm sự từng trải nữa. Mẹ của Sophie mỉm cười vì sự thành công của công trình của chúng tôi. Bà đọc đươc trong trái tim của hai trẻ; bà thấy rằng đã đến lúc để xác định trái tim của chàng Télémaque mới; bà khiến cho con gái nói. Con gái bà, với vẻ dịu dàng tự nhiên, trả lời với một giọng rụt rè càng chỉ càng làm cho tác dụng mạnh thêm. Vừa nghe được những âm thanh đầu tiên của giọng nói đó, Émile đã đầu hàng; Đó chính là Sophie, chàng không còn nghi ngờ gì nữa. Nếu đó không phải là nàng, thì cũng đã quá muộn để có thể rút lại.

Thế là khi đó những vẻ quyến rũ của cô gái mê hoặc này ào tới như thác đổ vào tim chàng, và chàng bắt đầu uống ừng ực thứ thuốc độc mà nàng chuốc cho chàng đắm say. Chàng không nói nữa, chàng không trả lời nữa; chàng chỉ còn thấy Sophie; chàng chỉ nghe thấy Sophie : nếu nàng nói một lời, chàng há miệng ra; nếu nàng nhìn xuống, chàng nhìn xuống; nếu chàng thấy nàng thở dài, chàng cũng thở dài : dường như chính là tâm hồn của Sophie làm cho chàng sống động. Tâm hồn chàng đã thay đổi biết bao chỉ trong vài khoảnh khắc ! Bây giờ không còn là Sophie run rẩy nữa, mà đến lượt Émile. Vĩnh biệt tự do, thơ ngây, chân thật ! Bối rối, lúng túng, lo sợ, chàng không dám nhìn xung quanh nữa, vì sợ thấy mọi người đang nhìn mình. Xấu hổ vì để cho mình bị nhìn thấu, chàng muốn biến thành vô hình trước tất cả mọi người để thỏa thuê chiêm ngưỡng nàng mà không bị quan sát. Sophie, trái lại, cảm thấy yên lòng vì nỗi lo sợ của Émile; nàng trông thấy chiến thắng của mình, nàng tận hưởng nó.

Nàng không tỏ lộ ra điều đó, mặc dù nàng mừng rỡ trong tim.

Nàng không thay đổi vẻ mặt ; nhưng, dù cho vẻ ngoài khiêm tốn và ánh mắt nhìn xuống, tim nàng thổn thức vì vui sướng và nói cho nàng biết rằng chàng Télémaque của nàng đã được tìm thấy.

Nếu ở đây tôi đi sâu vào câu chuyện có lẽ là quá ngây thơ và quá đơn giản của những ái tình ngây thơ của họ, chắc người ta sẽ nhìn những tình tiết này như là một trò chơi phù phiếm, và người ta lầm đấy. Ta không xem xét đủ kỹ ảnh hưởng của mối quan hệ đầu tiên giữa một người nam và một người nữ trong dòng đời của người này cũng như là người kia. Ta không thấy rằng cái ấn tượng đầu tiên, cũng sống động như là ấn tượng của tình yêu hay là một khuynh hướng dường như là tình yêu, nó có những tác động lâu dài mà ta không hề nhận thấy trong một chuỗi tiến triển của năm tháng, nhưng lại không ngừng tác động cho đến tận khi chết. Trong những văn luận về giáo dục, người ta cung cấp cho chúng ta những lời lẽ dài dòng đao to búa lớn vô dụng và mô phạm về những bổn phận hoang tưởng của trẻ em ; và người ta không nói với chúng ta một lời về cái phần quan trọng nhất và khó khăn nhất của giáo dục, tức là, cuộc khủng hoảng khi bước từ tuổi ấu thơ sang tuổi trưởng thành. Nếu tôi có thể làm cho những bài luận này trở nên hữu dụng ở chỗ nào đấy, thì đó sẽ đặc biệt là để phát triển thật dài cái phần chính yếu này, vốn bị tất cả những người khác bỏ qua, và để cho mình không hề bị đẩy lùi trong công trình này bởi những sự tinh tế giả tạo, cũng như chẳng hề sợ hãi bởi những khó khăn về ngôn từ. Nếu tôi đã nói cái điều cần phải làm, thì tôi đã nói cái điều mà tôi phải nói : đối với tôi thì việc đã viết ra một cuốn tiểu thuyết cũng chẳng quan trọng gì mấy. Cuốn tiểu thuyết về bản chất con người là một cuốn tiểu thuyết khá đẹp rồi. Nếu nó chỉ được tìm thấy ở trong bài viết này, thì liệu đó có phải là lỗi của tôi không? Đó có phải là lịch sử của giống loài tôi không? Các bạn đã làm cho nó suy đồi, chính các bạn đã khiến cho cuốn sách của tôi trở thành một tiểu thuyết.

Một nhận xét khác càng khiến củng cố thêm cho nhận xét ban đầu, là đây không phải là trường hợp của một chàng trai được giao phó ngay từ tuổi thơ cho nỗi sợ hãi, sự thèm khát, ham muốn, kiêu ngạo, và tất cả những đam mê vốn được dùng làm công cụ cho những nền giáo dục nói chung; mà đây là một chàng trai, không chỉ là với mối tình đầu, mà còn là đam mê đầu tiên của cả giống loài; và từ niềm đam mê này, có lẽ là đam mê duy nhất mà chàng sẽ cảm thấy một cách mãnh liệt trong suốt cả cuộc đời, sẽ phụ thuộc vào đó cái hình thức cuối cùng mà tính cách của chàng sẽ thành hình. Cách thức suy nghĩ, những tình cảm, những thị hiếu của chàng, được xác định bởi một đam mê dài lâu, sẽ đạt đến một sự chắc chắn khiến cho chúng không suy giảm đi nữa.

Người ta hình dung là giữa Émile và tôi thì cái đêm tiếp theo một buổi tối như thế không phải là để mà ngủ. Sao kia ! Chỉ một sự phù hợp của một cái tên thôi mà có thể có bấy nhiêu là quyền lực trên một người đàn ông khôn ngoan? Chỉ có một nàng Sophie trên đời này thôi ư? Hay tất cả các cô ấy đều giống nhau về tâm hồn cũng như là về tên gọi? Tất cả những cô mà chàng sẽ gặp đều là người nữ của chàng ư? Chàng có điên không mà đắm say dường ấy một người nữ không quen biết mà chàng chưa từng nói chuyện? Hãy chờ chút, chàng trai, hãy xem xét, hãy quan sát. Anh còn chưa biết mình đang ở nhà ai, thế mà, nghe anh nói, người ta đã tưởng là anh đang ở trong nhà mình rồi.


(J.-J. Rousseau, Emile hay là về giáo dục)


---------------------------------------


(Livre cinquième - Sophie ou la femme)

À ce nom de Sophie, vous eussiez vu tressaillir Émile. Frappé d’un nom si cher, il se réveille en sursaut, et jette un regard avide sur celle qui l’ose porter. Sophie, ô Sophie ! est-ce vous que mon cœur cherche ? est-ce vous que mon cœur aime ? Il l’observe, il la contemple avec une sorte de crainte et de défiance. Il ne voit pas exactement la figure qu’il s’était peinte ; il ne sait si celle qu’il voit vaut mieux ou moins. Il étudie chaque trait, il épie chaque mouvement, chaque geste ; il trouve à tout mille interprétations confuses ; il donnerait la moitié de sa vie pour qu’elle voulût dire un seul mot. Il me regarde, inquiet et troublé ; ses yeux me font à la fois cent questions, cent reproches. Il semble me dire à chaque regard : Guidez-moi tandis qu’il est temps ; si mon cœur se livre et se trompe, je n’en reviendrai de mes jours.
Émile est l’homme du monde qui sait le moins se déguiser. Comment se déguiserait-il dans le plus grand trouble de sa vie, entre quatre spectateurs qui l’examinent, et dont le plus distrait en apparence est en effet le plus attentif ? Son désordre n’échappe point aux yeux pénétrants de Sophie ; les siens l’instruisent de reste qu’elle en est l’objet : elle voit que cette inquiétude n’est pas de l’amour encore ; mais qu’importe ? il s’occupe d’elle, et cela suffit : elle sera bien malheureuse s’il s’en occupe impunément.
Les mères ont des yeux comme leurs filles, et l’expérience de plus. La mère de Sophie sourit du succès de nos projets. Elle lit dans les cœurs des deux jeunes gens ; elle voit qu’il est temps de fixer celui du nouveau Télémaque ; elle fait parler sa fille. Sa fille, avec sa douceur naturelle, répond d’un ton timide qui ne fait que mieux son effet. Au premier son de cette voix, Émile est rendu ; c’est Sophie, il n’en doute plus. Ce ne la serait pas, qu’il serait trop tard pour s’en dédire.
C’est alors que les charmes de cette fille enchanteresse vont par torrents à son cœur, et qu’il commence d’avaler à long traits le poison dont elle l’enivre. Il ne parle plus, il ne répond plus ; il ne voit que Sophie ; il n’entend que Sophie : si elle dit un mot, il ouvre la bouche ; si elle baisse les yeux, il les baisse ; s’il la voit soupirer, il soupire : c’est l’âme de Sophie qui paraît l’animer. Que la sienne a changé dans peu d’instants ! Ce n’est plus le tour de Sophie de trembler, c’est celui d’Émile. Adieu la liberté, la naïveté, la franchise. Confus, embarrassé, craintif, il n’ose plus regarder autour de lui, de peur de voir qu’on le regarde. Honteux de se laisser pénétrer, il voudrait se rendre invisible à tout le monde pour se rassasier de la contempler sans être observé. Sophie, au contraire, se rassure de la crainte d’Émile ; elle voit son triomphe, elle en jouit.
No’l mostra già, ben che in suo cor ne rida.
Elle n’a pas changé de contenance ; mais, malgré cet air modeste et ces yeux baissés, son tendre cœur palpite de joie, et lui dit que Télémaque est trouvé.

Si j’entre ici dans l’histoire trop naïve et trop simple peut-être de leurs innocentes amours, on regardera ces détails comme un jeu frivole, et l’on aura tort. On ne considère pas assez l’influence que doit avoir la première liaison d’un homme avec une femme dans le cours de la vie de l’un et de l’autre. On ne voit pas qu’une première impression, aussi vive que celle de l’amour ou du penchant qui tient sa place, a de longs effets dont on n’aperçoit point la chaîne dans le progrès des ans, mais qui ne cessent d’agir jusqu’à la mort. On nous donne, dans les traités d’éducation, de grands verbiages inutiles et pédantesques sur les chimériques devoirs des enfants ; et l’on ne nous dit pas un mot de la partie la plus importante et la plus difficile de toute l’éducation, savoir, la crise qui sert de passage de l’enfance à l’état d’homme. Si j’ai pu rendre ces essais utiles par quelque endroit, ce sera surtout pour m’y être étendu fort au long sur cette partie essentielle, omise par tous les autres, et pour ne m’être point laissé rebuter dans cette entreprise par de fausses délicatesses, ni effrayer par des difficultés de langue. Si j’ai dit ce qu’il faut faire, j’ai dit ce que j’ai dû dire : il m’importe fort peu d’avoir écrit un roman. C’est un assez beau roman que celui de la nature humaine. S’il ne se trouve que dans cet écrit, est-ce ma faute ? Ce devrait être l’histoire de mon espèce ? Vous qui la dépravez, c’est vous qui faites un roman de mon livre.
Une autre considération qui renforce la première, est qu’il ne s’agit pas ici d’un jeune homme livré dès l’enfance à la crainte, à la convoitise, à l’envie, à l’orgueil, et à toutes les passions qui servent d’instruments aux éducations communes ; qu’il s’agit d’un jeune homme dont c’est ici, non seulement le premier amour, mais la première passion de toute espèce ; que de cette passion, l’unique peut-être qu’il sentira vivement dans toute sa vie, dépend la dernière forme que doit prendre son caractère. Ses manières de penser, ses sentiments, ses goûts, fixés par une passion durable, vont acquérir une consistance qui ne leur permettra plus de s’altérer.
On conçoit qu’entre Émile et moi la nuit qui suit une pareille soirée ne se passe pas toute à dormir. Quoi donc ! la seule conformité d’un nom doit-elle avoir tant de pouvoir sur un homme sage ? N’y a-t-il qu’une Sophie au monde ? Se ressemblent-elles toutes d’âmes comme de nom ? Toutes celles qu’il verra sont-elles la sienne ? Est-il fou de se passionner ainsi pour une inconnue à laquelle il n’a jamais parlé ? Attendez, jeune homme, examinez, observez. Vous ne savez pas même encore chez qui vous êtes ; et, à vous entendre, on vous croirait déjà dans votre maison.

(Jean-Jacques Rousseau, Emile ou de l'éducation)

lundi 23 février 2015

Luận về nguồn gốc và cơ sở của bất bình đẳng giữa con người - JJR (26)


Cho dù những nguồn gốc này là thế nào, thì chí ít ta cũng thấy được, với chút ít chăm chút mà tự nhiên đã làm để xích gần con người lại với nhau bởi những nhu cầu chung, và để tạo thuận lợi cho việc dùng lời nói của họ, rằng là tự nhiên đã ít chuẩn bị tính xã hội cho họ biết chừng nào, và nó đã đưa rất ít phần mình biết chừng nào, vào tất cả những gì mà họ đã làm, để mà thiết lập những mối gắn bó giữa họ. Thực vậy, quả là không thể tưởng tượng được tại sao, trong tình trạng nguyên thủy này, mà một con người lại cần đến một con người khác, chứ không phải là một con khỉ hay một con sói hơn là một đồng loại của nó, cũng như là, giả sử nhu cầu này là cần thiết, thì (không thể tưởng tượng được) lý do nào đã gắn kết người kia đáp ứng cho nhu cầu đó, và ngay cả, trong trường hợp cuối cùng đó (thì cũng không thể tưởng tượng được) làm thế nào mà họ có thể thỏa thuận được những điều kiện giữa họ với nhau.
Tôi biết là người ta lặp lại không ngừng là không có gì khốn nạn hơn là con người trong tình trạng tự nhiên nguyên thủy này; và nếu đúng thực là, như tôi tin là đã chứng minh điều đó, đã chỉ có thể là sau rất nhiều thế kỷ mà hắn đã có khao khát và có cơ hội thoát ra khỏi tình trạng đó, thì đó hẳn là một cáo trạng chống lại tự nhiên, chứ không phải chống lại con người mà tự nhiên đã tạo nên như vậy. Nhưng mà, nếu tôi hiểu đúng cái từ "khốn nạn" này, thì đó là một từ không có nghĩa gì cả, hoặc chỉ có nghĩa là một sự tước bỏ đau xót và sự đau đớn của thân thể hay của tâm hồn. Thế mà tôi sẽ rất muốn được người ta giải thích cho tôi đâu là cái sự khốn khổ này của một sinh vật tự do với trái tim an lành và thân thể lành mạnh. Tôi tự hỏi là, cái nào, giữa cuộc sống văn minh và cuộc sống tự nhiên, thì dễ có khuynh hướng trở nên không chịu đựng nổi đối với những kẻ hưởng thụ nó ? Chúng ta gần như chỉ thấy xung quanh ta những người đang than thở về sự tồn tại của họ, thậm chí là nhiều người tự tước bỏ nó như là họ có thể, và cả sự kết hợp của những luật lệ của thần thánh cũng như của con người cũng chỉ tạm đủ để ngăn chặn sự lộn xộn này. Tôi tự hỏi có bao giờ người ta nghe nói là một kẻ hoang sống trong tự do đã từng chỉ là nghĩ mà thôi, đến việc than phiền về cuộc sống và tự cho mình cái chết ? Vậy thời ta hãy phán xét với ít kiêu ngạo hơn xem là cái khốn nạn thật sự là ở phía bên nào ? Ngược lại không gì khốn nạn hơn là người hoang dã, bị lóa mắt bởi những ánh sáng tri thức, bị dày vò bởi những đam mê, và suy luận về một tình trạng khác hơn tình trạng của chính hắn. Chính nhờ một ơn thiên hựu rất khôn ngoan, mà những khả năng mà hắn đã có được trong sức mạnh của mình đã phải chỉ được phát triển với những dịp may được thực hành chúng, để cho những khả năng ấy không trở nên thừa thãi và nặng gánh quá sớm, cũng không quá muộn, và vô dụng cho nhu cầu đối với hắn. Hắn đã có chỉ trong bản năng tất cả những gì hắn cần để sống trong tình trạng tự nhiên, hắn chỉ có trong lý trí được tu dưỡng điều mà hắn cần để sống trong xã hội.
 ---------------------------------------
Quoi qu'il en soit de ces origines, on voit du moins, au peu de soin qu'a pris la nature de rapprocher les hommes par des besoins mutuels, et de leur faciliter l'usage de la parole, combien elle a peu préparé leur sociabilité, et combien elle a peu mis du sien dans tout ce qu'ils ont fait, pour en établir les liens. En effet, il est impossible d'imaginer pourquoi, dans cet état primitif, un homme aurait plutôt besoin d'un autre homme qu'un singe ou un loup de son semblable, ni, ce besoin supposé, quel motif pourrait engager l'autre à y pourvoir, ni même, en ce dernier cas, comment ils pourraient convenir entre eux des conditions. Je sais qu'on nous répète sans cesse que rien n'eût été si misérable que l'homme dans cet état; et s'il est vrai, comme je crois l'avoir prouvé, qu'il n'eût pu qu'après bien des siècles avoir le désir et l'occasion d'en sortir, ce serait un procès à faire à la nature, et non à celui qu'elle aurait ainsi constitué. Mais, si j'entends bien ce terme de misérable, c'est un mot qui n'a aucun sens, ou qui ne signifie qu'une privation douloureuse et la souffrance du corps ou de l'âme. Or je voudrais bien qu'on m'expliquât quel peut être le genre de misère d'un être libre dont le coeur est en paix et le corps en santé. Je demande laquelle, de la vie civile ou naturelle, est la plus sujette à devenir insupportable à ceux qui en jouissent? Nous ne voyons presque autour de nous que des gens qui se plaignent de leur existence, plusieurs même qui s'en privent autant qu'il est en eux, et la réunion des lois divine et humaine suffit à peine pour arrêter ce désordre. Je demande si jamais on a ouïe dire qu'un sauvage en liberté ait seulement songé à se plaindre de la vie et à se donner la mort? Qu'on juge donc avec moins d'orgueil de quel côté est la véritable misère. Rien au contraire n'eût été si misérable que l'homme sauvage, ébloui par des lumières, tourmenté par des passions, et raisonnant sur un état différent du sien. Ce fut par une providence très sage, que les facultés qu'il avait en puissance ne devaient se développer qu'avec les occasions de les exercer, afin qu'elles ne lui fussent ni superflues et à charge avant le temps, ni tardives, et inutiles au besoin. Il avait dans le seul instinct tout ce qu'il fallait pour vivre dans l'état de nature, il n'a dans une raison cultivée que ce qu'il lui faut pour vivre en société.

samedi 21 février 2015

Luận về nguồn gốc và cơ sở của bất bình đẳng giữa con người - JJR (25)

 Tôi dừng lại ở những bước đầu tiên này, và tôi khẩn cầu những người phán xét tôi tạm ngưng đọc ở đây; để mà suy ngẫm xem, về phát minh của duy nhất những danh từ vật lý tính, nghĩa là, về phần ngôn ngữ dễ tìm thấy nhất, con đường mà phát minh ấy còn phải thực hiện, để mà diễn đạt tất cả những tư tưởng của con người, để nó hình thành một dạng ổn định, để nó có thể được nói cho công chúng, và để ảnh hưởng lên xã hội. Tôi cầu xin họ suy nghĩ về việc đã cần phải bao nhiêu thời gian và tri thức để tìm ra những con số (chú thích 14), những từ trừu tượng, những thì quá khứ, và tất cả những thì của động từ, những phần tử, cú pháp, nối những mệnh đề, những suy luận, và tạo thành tất cả tính lô gíc của phát biểu. Về phần tôi, sợ hãi trước những khó khăn nhân lên chồng chất, và bị thuyết phục về sự bất khả gần như đã được chứng minh rằng là các ngôn ngữ đã được sinh ra và thiết lập bởi những phương tiện thuần túy nhân tính, tôi xin để cho ai muốn thì cứ thực hiện việc thảo luận về cái vấn đề khó này, đó là cái nào đã là cần thiết hơn, từ xã hội đã được gắn bó, đến việc thiết lập ngôn ngữ, hay là từ những ngôn ngữ đã được phát minh, đến việc hình thành xã hội.
----------------------------------------------------- 
Je m'arrête à ces premiers pas, et je supplie mes juges de suspendre ici leur lecture; pour considérer, sur l'invention des seuls substantifs physiques, c'est-à-dire, sur la partie de la langue la plus facile à trouver, le chemin qui lui reste à faire, pour exprimer toutes les pensées des hommes, pour prendre une forme constante, pouvoir être parlée en public, et influer sur la société. Je les supplie de réfléchir à ce qu'il a fallu de temps et de connaissances pour trouver les nombres (note 14), les mots abstraits, les aoristes, et tous les temps des verbes, les particules, la syntaxe, lier les propositions, les raisonnements, et former toute la logique du discours. Quant à moi, effrayé des difficultés qui se multiplient, et convaincu de l'impossibilité presque démontrée que les langues aient pu naître et s'établir par des moyens purement humains, je laisse à qui voudra l'entreprendre la discussion de ce difficile problème, lequel a été le plus nécessaire, de la société déjà liée, à l'institution des langues, ou des langues déjà inventées, à l'établissement de la société.

vendredi 20 février 2015

Luận về nguồn gốc và cơ sở của bất bình đẳng giữa con người - JJR (24)

Nhưng khi mà, bởi những phương tiện mà tôi không hình dung được, những nhà ngữ pháp mới của chúng ta bắt đầu trải rộng những ý tưởng của họ và khái quát hóa các từ, sự ngu tối của những nhà phát minh đã phải khép phương pháp này vào những giới hạn thật là hẹp; và bởi vì lúc đầu họ đã nhân rộng quá nhiều tên của những cá thể do không biết những thể loại và giống loài, sau đó họ phân biệt quá ít giống loài và thể loại do đã không xem xét các vật thể với tất cả những sự khác biệt của chúng. Để đẩy xa hơn những sự phân loại, thì hẳn đã cần nhiều kinh nghiệm và hiểu biết hơn là họ đã có, và cần nhiểu tìm tòi và lao động hơn là họ đã muốn làm như vậy. Thế mà nếu như, ngay cả ngày nay, người ta khám phá ra mỗi ngày những giống loài mới mà cho đến tận lúc này đã thoát khỏi tất cả những quan sát của chúng ta, thì ta thấy là còn bao nhiêu nữa đã trốn tránh được khỏi những người mà chỉ đánh giá sự vật qua vẻ ban đầu của chúng ! Về phần những lớp loài nguyên thủy và những khái niệm tổng quát nhất, thì sẽ là thừa nếu thêm rằng họ còn không hiểu chúng hơn : làm thế nào, chẳng hạn, mà họ đã tưởng tượng hoặc đã hiểu các từ như vật chất, tinh thần, chất cấu tạo, kiểu thức, hình tượng, đường chuyển động, bởi vì các nhà triết học của chúng ta vốn dùng những khái niệm ấy từ rất lâu rồi thì chính họ cũng rất khó khăn để mà hiểu chúng, và rằng những ý tưởng mà họ gắn với những từ này thì thuần túy là siêu hình, nên họ đã không thấy được hình mẫu nào ở trong tự nhiên ?

---------------------------------------------
  Mais lorsque, par des moyens que je ne conçois pas, nos nouveaux grammairiens commencèrent à étendre leurs idées et à généraliser leurs mots, l'ignorance des inventeurs dut assujettir cette méthode à des bornes fort étroites; et comme ils avaient d'abord trop multiplié les noms des individus faute de connaître les genres et les espèces, ils firent ensuite trop peu d'espèces et de genres faute d'avoir considéré les êtres par toutes leurs différences. Pour pousser les divisions assez loin, il eût fallu plus d'expérience et de lumière qu'ils n'en pouvaient avoir, et plus de recherches et de travail qu'ils n'y en voulaient employer. Or si, même aujourd'hui, l'on découvre chaque jour de nouvelles espèces qui avaient échappé jusqu'ici à toutes nos observations, qu'on pense combien il dut s'en dérober à des hommes qui ne jugeaient des choses que sur le premier aspect! Quant aux classes primitives et aux notions les plus générales, il est superflu d'ajouter qu'elles durent leur échapper encore: comment, par exemple, auraient-ils imaginé ou entendu les mots de matière, d'esprit, de substance, de mode, de figure, de mouvement, puisque nos philosophes qui s'en servent depuis si longtemps ont bien de la peine à les entendre eux-mêmes, et que les idées qu'on attache à ces mots étant purement métaphysiques, ils n'en trouvaient aucun modèle dans la nature?

jeudi 19 février 2015

Luận về nguồn gốc và cơ sở của bất bình đẳng giữa con người - JJR (23)

Vả lại, những ý tưởng khái quát chỉ có thể xâm nhập vào trí óc nhờ vào từ; và sự thấu hiểu chỉ nắm bắt được từ bởi những mệnh đề. Đó là một trong những lý do tại sao thú vật lại không thể tự hình thành những ý tưởng như vậy, cũng như không bao giờ đạt tới tính hoàn hảo vốn phụ thuộc vào điều đó. Khi một con khỉ đi mà không ngập ngừng do dự từ một quả hồ đào này sang một quả hồ đào khác, thì liệu ta có nghĩ rằng nó có được ý tưởng khái quát về cái loại quả này, và nó so sánh cái nguyên mẫu ấy của nó với hai cá thể hồ đào đó ? Hẳn là không; nhưng mà việc nhìn thấy một trong những quả hồ đào này gợi lên trong trí nhớ của nó những cảm giác mà nó đã nhận được từ quả hồ đào khác, và mắt nó, được điều chỉnh theo một cách nào đó, thông báo cho vị giác của nó sự điều chỉnh mà nó sẽ nhận được. Tất cả ý tưởng khái quát đều thuần túy là trí tuệ; chỉ cần trí tưởng tượng can dự vào, là ý tưởng lập tức trở nên đặc biệt. Hãy thử vẽ nên một cái cây chung chung, bạn sẽ không bao giờ đi đến tận cùng, dù sao bạn cũng sẽ phải thấy nó nhỏ hoặc lớn, thưa thớt lá hay rậm rạp, màu sáng hoặc sậm, và nếu mà chỉ phụ thuộc vào bạn thôi để mà thấy thứ mà có ở mọi cái cây, thì cái hình ảnh này sẽ không giống với một cái cây nữa. Những sự vật thuần túy là trừu tượng đều được thấy như vậy, hoặc là chỉ hình thành được bởi phát biểu. Chỉ mỗi định nghĩa về hình tam giác đã cho bạn một ý tưởng thật sự về điều đó : ngay khi mà bạn hình dung nó trong trí óc bạn, thì nó là một hình tam giác này mà không phải là một hình tam giác khác, và bạn không thể tránh được làm cho những cạnh của nó nhạy cảm hay bề mặt của nó nhiều màu sắc. Vậy là cần phải phát biểu lên những mệnh đề, vậy là cần phải nói lên để có những ý tưởng khái quát; bởi vì ngay khi mà trí tưởng tượng dừng lại, thì trí óc chỉ còn hoạt động nhờ phát biểu. Vậy nếu những người sáng chế đầu tiên đã chỉ có thể dùng những danh từ cho những ý tưởng mà họ đã có, thì suy ra rằng những danh từ đầu tiên đã chỉ có thể là những danh từ riêng.


--------------------------------------------------
D'ailleurs, les idées générales ne peuvent s'introduire dans l'esprit qu'à l'aide des mots, et l'entendement ne les saisit que par des propositions. C'est une des raisons pour quoi les animaux ne sauraient se former de telles idées, ni jamais acquérir la perfectibilité qui en dépend. Quand un singe va sans hésiter d'une noix à l'autre, pense-t-on qu'il ait l'idée générale de cette sorte de fruit, et qu'il compare son archétype à ces deux individus? Non sans doute; mais la vue de l'une de ces noix rappelle à sa mémoire les sensations qu'il a reçues de l'autre, et ses yeux, modifiés d'une certaine manière, annoncent à son goût la modification qu'il va recevoir. Toute idée générale est purement intellectuelle; pour peu que l'imagination s'en mêle, l'idée devient aussitôt particulière. Essayez de vous tracer l'image d'un arbre en général, jamais vous n'en viendrez à bout, malgré vous il faudra le voir petit ou grand, rare ou touffu, clair ou foncé, et s'il dépendait de vous de n'y voir que ce qui se trouve en tout arbre, cette image ne ressemblerait plus à un arbre. Les êtres purement abstraits se voient de même, ou ne se conçoivent que par le discours. La définition seule du triangle vous en donne la véritable idée: sitôt que vous en figurez un dans votre esprit, c'est un tel triangle et non pas un autre, et vous ne pouvez éviter d'en rendre les lignes sensibles ou le plan coloré. Il faut donc énoncer des propositions, il faut donc parler pour avoir des idées générales; car sitôt que l'imagination s'arrête, l'esprit ne marche plus qu'à l'aide du discours. Si donc les premiers inventeurs n'ont pu donner des noms qu'aux idées qu'ils avaient déjà, il s'ensuit que les premiers substantifs n'ont pu jamais être que des noms propres.

jeudi 18 juillet 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (27 và hết)


Ông hoàng của tài hùng biện là lãnh sự thành Rome, và người vĩ đại nhất, có lẽ thế, trong số các triết gia, là quan chưởng ấn nước Anh. Liệu ta có tin rằng nếu một người đã chỉ chiếm được một ghế giảng trong trường đại học nào đấy, và người kia chỉ nhận được một khoản trợ cấp ít ỏi của Viện Hàn lâm; liệu người ta có tin, tôi nhắc lại, rằng tác phẩm của họ sẽ không được cảm nhận trong tình trạng của chúng ? Vậy thì cầu mong các vị vua đừng bận lòng chấp nhận trong những hội đồng của mình những người có năng lực nhất để cố vấn họ; cầu cho họ từ bỏ cái định kiến cũ kỹ được phát minh bởi lòng kiêu ngạo của những bậc Cao cả, rằng là nghệ thuật dẫn dắt dân chúng thì khó hơn là nghệ thuật chiếu sáng họ : như thể là sẽ dễ khiến cho những con người làm tốt theo ý thích của họ hơn là bắt buộc họ làm điều đó bằng sức mạnh.

Cầu cho những nhà thông thái hàng đầu tìm được nơi nương náu vinh dự trong những triều đình. Cầu cho họ đạt được ở đó phần thưởng duy nhất xứng đáng với họ; đó là đóng góp bởi chữ tín của họ cho hạnh phúc của những dân tộc mà họ giảng dạy cho những người ấy sự khôn ngoan. Chỉ khi đó ta sẽ thấy điều mà đức hạnh, khoa học và quyền lực được làm cho sinh động bởi một sự tranh đua cao quý, và hòa hợp với nhau cùng làm việc vì hạnh phúc của loài người. Nhưng chừng nào mà uy quyền sẽ đứng một mình một bên; những ánh sáng và sự khôn ngoan đứng một mình ở bên khác, thì những nhà thông thái sẽ hiếm khi nghĩ ra được điều gì vĩ đại, và những ông hoàng sẽ còn hiếm khi làm được những điều đẹp đẽ hơn, và dân chúng sẽ tiếp tục thấp hèn, hư hỏng và bất hạnh.

Còn chúng ta, những người tầm thường, mà trời đã chẳng hề chia cho những tài năng lớn lao và số phận cũng không dành cho biết bao vinh quang, chúng ta hãy ở lại trong bóng tối. Đừng chạy theo một danh tiếng nó sẽ thoát khỏi chúng ta, và trong tình trạng hiện tại của sự vật, nó sẽ không bao giờ trả lại cho chúng ta những gì nó đã khiến chúng ta trả giá, khi mà chúng ta có lẽ sẽ có được tất cả những danh hiệu để đạt được nó. Tìm kiếm hạnh phúc của chúng ta trong ý kiến của người khác để làm gì nếu như chúng ta có thể tìm thấy nó nơi chính chúng ta ? Hãy để cho những người khác sự chăm chút dạy dỗ dân chúng về những bổn phận của họ, và hãy tự hạn chế mình vào việc làm đầy những bổn phận của mình, chúng ta không cần biết nhiều hơn thế.

Hỡi đức hạnh ! Khoa học cao cả của những tâm hồn đơn giản, vậy là phải cần bấy nhiêu cực nhọc và máy móc để nhận ra ngươi ư ? Những nguyên tắc của ngươi đã không được ghi khắc trong tất cả những trái tim, và không đủ để học những luật lệ của ngươi khi tự trở về trong chính mình và lắng nghe tiếng nói của lương tâm mình trong sự im lặng của những đam mê ? Đó là triết học thực sự, chúng ta hãy biết bằng lòng với nó; và không ghen ghét vinh quang của những con người nổi tiếng mà họ trở nên bất tử trong nền cộng hòa của chữ nghĩa, chúng ta hãy cố gắng đặt giữa họ và chúng ta sự phân biệt vinh quang này mà người ta nhận thấy giữa hai dân tộc lớn; rằng một bên biết nói hay, và bên kia, biết làm tốt.

(Hết)

---------------------------------------------------
 
Le prince de l'éloquence fut consul de Rome, et le plus grand, peut-être, des philosophes, chancelier d'Angleterre. Croit-on que si l'un n'eût occupé qu'une chaire dans quelque université, et que l'autre n'eût obtenu qu'une modique pension d'Académie; croit-on, dis-je, que leurs ouvrages ne se sentiraient pas de leur état? Que les rois ne dédaignent donc pas d'admettre dans leurs conseils les gens les plus capables de les bien conseiller: qu'ils renoncent à ce vieux préjugé inventé par l'orgueil des Grands, que l'art de conduire les peuples est plus difficile que celui de les éclairer: comme s'il était plus aisé d'engager les hommes à bien faire de leur bon gré que de les y contraindre par la force. Que les savants du premier ordre trouvent dans leur cours d'honorables asiles. Qu'ils y obtiennent la seule récompense digne d'eux; celle de contribuer par leur crédit au bonheur des peuples à qui ils auront enseigné la sagesse. C'est alors seulement qu'on verra ce que peuvent la vertu, la science et l'autorité animées d'une noble émulation et travaillant de concert à la félicité du genre humain. Mais tant que la puissance sera seule d'un côté; les lumières et la sagesse seules d'un autre, les savants penseront rarement de grandes choses, les princes en feront plus rarement de belles, et les peuples continueront d'être vils, corrompus et malheureux.
Pour nous, hommes vulgaires, à qui le ciel n'a point départi de si grands talents et qu'il ne destine pas à tant de gloire, restons dans notre obscurité. Ne courons point après une réputation qui nous échapperait, et qui, dans l'état présent des choses ne nous rendrait jamais ce qu'elle nous aurait coûté, quand nous aurions tous les titres pour l'obtenir. A quoi bon chercher notre bonheur dans l'opinion d'autrui si nous pouvons le trouver en nous-mêmes? Laissons à d'autres le soin d'instruire les peuples de leurs devoirs, et bornons-nous à bien remplir les nôtres, nous n'avons pas besoin d'en savoir davantage.
O vertu! Science sublime des âmes simples, faut-il donc tant de peines et d'appareil pour te connaître? Tes principes ne sont-ils pas gravés dans tous les coeurs, et ne suffit-il pas pour apprendre tes lois de rentrer en soi-même et d'écouter la voix de sa conscience dans le silence des passions? Voilà la véritable philosophie, sachons nous en contenter; et sans envier la gloire de ces hommes célèbres qui s'immortalisent dans la république des lettres, tâchons de mettre entre eux et nous cette distinction glorieuse qu'on remarquait jadis entre deux grands peuples; que l'un savait bien dire, et l'autre, bien faire.

mercredi 17 juillet 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (26)


Nhưng nếu tiến bộ của khoa học và nghệ thuật đã không thêm được gì vào mặc khải của chúng ta; nếu nó đã làm hư hỏng tập quán, và nếu sự hư hỏng của tập quán đã phạm đến sự tinh khiết của thị hiếu, thì chúng ta sẽ nghĩ gì về đám đông những tác giả sơ khai này mà họ đã lánh xa khỏi ngôi đền của những Nàng Thơ những khó khăn để tránh bị tiếp cận, mà tự nhiên đã trải ra nơi đó như là một thử thách về sức lực cho những người ham muốn được biết ? Chúng ta sẽ nghĩ gì về những người chồng chất những tác phẩm mà họ đã tọc mạch phá vỡ cánh cửa của các khoa học và đưa vào thánh địa của chúng một đám ô hợp không xứng đáng lại gần; trong khi mà đáng mong ước là tất cả những kẻ không thể tiến xa hơn trong nghề nghiệp văn chương, đã nên bị chặn lại ngay ở lối vào, và ném mình vào những nghệ thuật khác có lợi hơn cho xã hội. Kẻ này mà suốt cả đời sẽ là một kẻ gieo vần tồi, một nhà hình học thứ cấp, có lẽ sẽ trở thành một người chế tạo vải tốt. Đã chẳng hề cần đến thầy cho những người mà tự nhiên đã dành họ làm môn đệ. Những Verulam, những Descartes và những Newton, những người thầy của loài người này chính họ đã chẳng hề có thầy, và những người hướng dẫn nào đã có thể dẫn họ đến tận nơi mà thiên tài rộng lớn của họ đã mang họ đi ? Những người thầy tầm thường đã chỉ có thể thu hẹp lại sự hiểu biết của họ bằng cách siết họ lại trong năng lực hạn hẹp của mình. Chính bởi những trở ngại đầu tiên mà họ đã học cách nỗ lực, mà họ đã luyện tập để băng qua khoảng cách mênh mông mà họ đã vượt qua. Nếu phải cho phép vài con người giao phó mình cho nghiên cứu khoa học và nghệ thuật, thì đó chỉ là dành cho những người cảm thấy có đủ sức mạnh để bước đi một mình trên dấu vết của chúng, và vượt lên trước chúng. Chính là thuộc về số nhỏ những người này việc xây lên những tượng đài vinh quang của trí tuệ con người. Nhưng nếu ta muốn rằng không có điều gì vượt cao hơn thiên tài của họ, thì cần phải là không có gì vượt cao hơn hy vọng của họ. Đó là sự động viên duy nhất mà họ cần. Tâm hồn tỷ lệ thuận một cách vô cảm với những đối tượng chiếm giữ nó, và chính là những dịp may lớn sẽ tạo ra những vĩ nhân.

--------------------------------------------------------

Mais si le progrès des sciences et des arts n'a rien ajouté à notre véritable félicité; s'il a corrompu nos moeurs, et si la corruption des moeurs a porté atteinte à la pureté du goût, que penserons-nous de cette foule d'auteurs élémentaires qui ont écarté du temple des Muses les difficultés qui défendaient son abord, et que la nature y avait répandues comme une épreuve des forces de ceux qui seraient tentés de savoir? Que penserons-nous de ces compilateurs d'ouvrages qui ont indiscrètement brisé la porte des sciences et introduit dans leur sanctuaire une populace indigne d'en approcher; tandis qu'il serait à souhaiter que tous ceux qui ne pouvaient avancer loin dans la carrière des lettres, eussent été rebutés dès l'entrée, et se fussent jetés dans arts utiles à la société. Tel qui sera toute sa vie un mauvais versificateur, un géomètre subalterne, serait peut-être devenu un grand fabricateur d'étoffes. Il n'a point fallu de maîtres à ceux que la nature destinait à faire des disciples. Les Vérulam, les Descartes et les Newton, ces précepteurs du genre humain n'en ont point eu eux-mêmes, et quels guides les eussent conduits jusqu'où leur vaste génie les a portés? Des maîtres ordinaires n'auraient pu rétrécir leur entendement en le resserrant dans l'étroite capacité du leur. C'est par les premiers obstacles qu'ils ont appris à faire des efforts, et qu'ils se sont exercés à franchir l'espace immense qu'ils ont parcouru. S'il faut permettre à quelques hommes de se livrer à l'étude des sciences et des arts, ce n'est qu'à ceux qui se sentiront la force de marcher seuls sur leurs traces, et de les devancer. C'est à ce petit nombre qu'ils appartient d'élever des monuments à la gloire de l'esprit humain. Mais si l'on veut que rien ne soit au-dessus de leur génie, il faut que rien ne soit au-dessus de leurs espérances. Voilà l'unique encouragement dont ils ont besoin. L'âme se proportionne insensiblement aux objets qui l'occupent, et ce sont les grandes occasions qui font les grands hommes.



lundi 15 juillet 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (25)


Vậy đó là những con người tuyệt vời mà sự trọng vọng của những người cùng thời của họ đã được ban phát hào phóng trong khi họ còn sống, và được dành cho sự bất tử sau khi quá cố! Đó là những châm ngôn khôn ngoan mà chúng ta nhận được từ họ và chúng ta truyền từ thời đại này sang thời đại khác cho con cháu của chúng ta. Lương giáo, được giao phó cho tất cả những lầm lạc của lý trí con người, đã để lại được cho hậu thế điều gì khiến người ta có thể so sánh với những tượng đài đáng xấu hổ mà in ấn đã chuẩn bị cho nó, dưới triều đại của Kinh Phúc âm ? Những bài viết bất kính của những Leucippe và những Diagoras đã chết đi cùng với họ. Người ta đã còn chưa sáng chế ra nghệ thuật làm cho bất diệt những sự ngông cuồng của trí tuệ con người. Nhưng, nhờ có những kiểu chữ in ấn (ghi chú 10) và việc sử dụng mà chúng ta làm với chúng, những mơ mộng nguy hiểm của những Hobbes và những Spinoza sẽ còn lại mãi. Tới luôn nào, những bài viết nổi tiếng mà sự bất tri và sự chất phác của cha ông chúng ta đã không hề có khả năng; hãy đồng hành tới con cháu chúng ta những tác phẩm còn nguy hiểm hơn này mà từ đó tỏa mùi sự hư hỏng của những tập quán của thế kỷ của chúng ta, và hãy cùng nhau mang đến cho những thế kỷ tới một câu chuyện trung thành về sự tiến bộ và những lợi ích của khoa học và nghệ thuật của chúng ta. Nếu họ đọc các ngài, các ngài sẽ không để cho họ một sự bối rối nào trên câu hỏi mà chúng ta khuấy động lên ngày hôm nay : và trừ phi là họ còn điên rồ hơn chúng ta, họ sẽ giơ hai tay lên trời và sẽ nói trong sự cay đắng của trái tim : "Thiên Chúa toàn năng, người giữ trong tay những trí óc, hãy giải thoát chúng con khỏi những ánh sáng và những nghệ thuật chết người của cha ông chúng con, và hãy trả lại cho chúng con sự bất tri, sự ngây thơ và sự nghèo khổ, những của cải duy nhất có thể làm nên hạnh phúc của chúng con và là quý giá trước người."

(Chi chú 10) : Cứ xem những sự lộn xộn gớm ghiếc mà in ấn đã gây ra ở Châu Âu, cứ phán xét tương lai mà điều tai hại đó đã làm từ ngày này sang ngày kia, ta có thể dễ dàng dự đoán rằng các vị vua sẽ không chậm trễ tự cho bấy nhiêu công sức để đuổi cái nghệ thuật kinh khủng này ra khỏi nhà nước của họ cũng như họ đã làm để đưa nó vào. Quốc vương Achmet, từng nhượng bộ những yêu sách của một vài vị được coi là người có thị hiếu, đã đồng ý thành lập một xưởng in ở Constantinople. Nhưng vừa khi mà máy in đang được tiến hành thì người ta bị cưỡng bức phải phá hủy nó và ném những dụng cụ xuống một cái giếng. Người ta nói rằng người kế vị đấng tiên tri Omar, được hỏi ý về điều cần phải làm với thư viện Alexandrie, đã trả lời với những từ này : Nếu những cuốn sách của thư viện này chứa đựng những điều trái ngược lại kinh Coran, thì chúng là xấu xa và phải đốt chúng. Nếu chúng chỉ chứa đựng những học thuyết của kinh Coran, thì cũng đốt chúng luôn : chúng là thừa. Các nhà thông thái của chúng ta đã trích dẫn lập luận này như là tối cao của phi lý. Tuy nhiên, hãy giả thiết Grégoire Đại đức ở vào vị trí của Omar và Kinh Phúc âm vào vị trí của Kinh Coran, thì thư viện sẽ vẫn còn bị đốt lần nữa, và đó có lẽ sẽ là tình tiết đẹp nhất trong cuộc đời vị Giáo hoàng lừng lẫy này.

------------------------------------------------- 
 
Voilà donc les hommes merveilleux à qui l'estime de leurs contemporains a été prodiguée pendant leur vie, et l'immortalité réservée après leur trépas! Voilà les sages maximes que nous avons reçues d'eux et que nous transmettrons d'âge en âge à nos descendants. Le paganisme, livré à tous les égarements de la raison humaine, a-t-il laissé à la postérité rien qu'on puisse comparer aux monuments honteux que lui a préparés l'imprimerie, sous le règne de l'Evangile? Les écrits impies des Leucippe et des Diagoras sont péris avec eux. On n'avait point encore inventé l'art d'éterniser les extravagances de l'esprit humain. Mais, grâce aux caractères typographiques (note 10) et à l'usage que nous en faisons, les dangereuses rêveries des Hobbes et des Spinoza resteront à jamais. Allez, écrits célèbres dont l'ignorance et la rusticité de nos pères n'auraient point été capables; accompagnez chez nos descendants ces ouvrages plus dangereux encore d'où s'exhale la corruption des moeurs de notre siècle, et portez ensemble aux siècles à venir une histoire fidèle du progrès et des avantages de nos sciences et de nos arts. S'ils vous lisent, vous ne leur laisserez aucune perplexité sur la question que nous agitons aujourd'hui: et à moins qu'ils ne soient plus insensés que nous, ils lèveront leurs mains au ciel, et diront dans l'amertume de leur coeur: "Dieu tout-puissant, toi qui tiens dans tes mains les esprits, délivre-nous des lumières et des funestes arts de nos pères, et rends-nous l'ignorance, l'innocence et la pauvreté, les seuls biens qui puissent faire notre bonheur et qui soient précieux devant toi."

(Note 10) A considérer les désordres affreux que l'imprimerie a déjà causés en Europe, à juger de l'avenir par le progrès que le mal fait d'un jour à l'autre, on peut prévoir aisément que les souverains ne tarderont pas à se donner autant de soins pour bannir cet art terrible de leurs Etats qu'ils en ont pris pour l'y introduire. Le sultan Achmet, cédant aux importunités de quelques prétendus gens de goût, avait consenti d'établir une imprimerie à Constantinople. Mais à peine la presse fut-elle en train qu'on fut contraint de la détruire et d'en jeter les instruments dans un puits. On dit que le calife Omar, consulté sur ce qu'il fallait faire de la bibliothèque d'Alexandrie, répondit en ces termes: Si les livres de cette bibliothèque contiennent des choses opposées à l'Alcoran, ils sont mauvais et il faut les brûler. S'ils ne contiennent que la doctrine de l'Alcoran, brûlez-les encore: ils sont superflus. Nos savants ont cité ce raisonnement comme le comble de l'absurdité. Cependant, supposez Grégoire le Grand à la place d'Omar et l'Evangile à la place de l'Alcoran, la bibliothèque aurait encore été brûlée, et ce serait peut-être le plus beau trait de la vie de cet illustre pontife.


Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (24)


Người ta đừng có đưa ra chống lại tôi một phản biện mà đối với tôi nó chỉ là một bằng chứng mới. Biết bao chăm sóc chỉ càng chứng minh sự cần thiết phải dùng đến chúng, và người ta chẳng tìm kiếm phương thuốc cho những bệnh đau không tồn tại. Tại sao những phương thuốc này vẫn còn mang tính chất của những phương thuốc thông thường bởi sự không đủ của chúng ? Bao nhiêu là cơ sở được tạo nên cho lợi ích của những nhà thông thái chỉ toàn là thêm khả năng áp đặt lên những đối tượng của khoa học và xoay những trí tuệ sang việc nuôi trồng họ. Dường như là, xem những cẩn trọng mà ta thực hiện, ta có quá nhiều thợ cày và ta sợ thiếu những triết gia. Tôi không hề muốn mạo hiểm ở đây một so sánh giữa nông nghiệp và triết học; người ta sẽ không chịu đựng nổi. Tôi sẽ chỉ hỏi : Triết học là gì ? Những tác phẩm của những triết gia nổi tiếng nhất chứa đựng những gì ? Những bài học của những người bạn của sự khôn ngoan này là gì ?

Cứ nghe họ nói, người ta lại không coi họ như một đám lang băm kêu gào, mỗi người một phía, trên một quảng trường công cộng : Hãy tới đây với tôi, chỉ có mình tôi là không lừa bịp ? Một người cho rằng là không hề có cơ thể và tất cả chỉ là biểu hiện. Người khác, rằng là không có chất nào khác hơn là vật chất và thượng đế nào khác hơn là thế giới. Người này lập luận rằng không có đức hạnh cũng không có tật xấu, và điều thiện và điều ác trong đạo đức là hoang tưởng. Người kia, rằng con người là những con sói và có thể ngốn ngấu lẫn nhau mà vẫn yên ổn với lương tâm. Hỡi các triết gia vĩ đại ! Cầu xin các ngài đừng dành cho bạn bè và trẻ em của các ngài những bài học ích lợi này; các ngài sẽ mau chóng nhận được cái giá của chúng, và chúng tôi sẽ không sợ phải thấy trong chúng tôi người nào đó trong số những người theo các ngài.

-------------------------------------------------- 
 
Qu'on ne m'oppose donc point une objection qui n'est pour moi qu'une nouvelle preuve. Tant de soins ne montrent que trop la nécessité de les prendre, et l'on ne cherche point de remèdes à des maux qui n'existent pas. Pourquoi faut-il que ceux-ci portent encore par leur insuffisance le caractère des remèdes ordinaires? Tant d'établissements faits à l'avantage des savants n'en sont que plus capables d'en imposer sur les objets des sciences et de tourner les esprits à leur culture. Il semble, aux précautions qu'on prend, qu'on ait trop de laboureurs et qu'on craigne de manquer de philosophes. Je ne veux point hasarder ici une comparaison de l'agriculture et de la philosophie: on ne le supporterait pas. Je demanderai seulement: qu'est-ce que la philosophie? Que contiennent les écrits des philosophes les plus connus? Quelles sont les leçons de ces amis de la sagesse? A les entendre, ne les prendrait-on pas pour une troupe de charlatans criant, chacun de son côté, sur une place publique: Venez à moi, c'est moi seul qui ne trompe point? L'un prétend qu'il n'y a point de corps et que tout est en représentation. L'autre, qu'il n'y a d'autre substance que la matière ni d'autre dieu que le monde. Celui-ci avance qu'il y a ni vertus ni vices, et que le bien et le mal moral sont des chimères. Celui-là, que les hommes sont des loups et peuvent se dévorer en sûreté de conscience. O grands philosophes! que ne réservez-vous pour vos amis et pour vos enfants ces leçons profitables; vous en recevriez bientôt le prix, et nous ne craindrions pas de trouver dans les nôtres quelqu'un de vos sectateurs.


jeudi 11 juillet 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (23)

Tuy nhiên, tôi thú nhận; điều xấu đã không lớn như lẽ ra nó đã có thể trở thành. Sự nhìn xa vĩnh hằng, khi đặt bên cạnh những cây có hại những cây đơn giản lành mạnh, và đặt vào trong thể chất của nhiều động vật gây hại phương thuốc chữa lành những vết thương của chúng, đã dạy cho các bậc vương quyền tức là những trợ tá của mình cách bắt chước sự khôn ngoan của ngài. Chính là theo ví dụ của ngài mà ngay trong lòng khoa học và nghệ thuật, nguồn gốc của cả ngàn rối loạn, vì vua vĩ đại này mà vinh quang của ngài sẽ chỉ giành thêm một ánh sáng mới từ thời đại này sang thời đại khác, ngài đã tạo ra những xã hội nổi tiếng bị chất nặng bởi những trầm tích nguy hiểm của kiến thức nhân loại đồng thời với những trầm tích thiêng liêng của những tập quán, bởi sự chú ý mà những xã hội ấy nhằm duy trì trong nó tất cả sự tinh khiết, và đòi hỏi điều đó nơi những thành viên mà chúng tiếp nhận.
 Những thể chế khôn ngoan đã được làm cho vững mạnh hơn bởi người kế tục cao quý của ngài, và được bắt chước bởi tất cả những vị vua của châu Âu, sẽ được dùng chí ít để hãm bớt lại những văn sĩ, mà tất cả bọn họ đều khao khát vinh dự được thừa nhận trong những Viện Hàn lâm, họ sẽ tự theo dõi bản thân, và nỗ lực tự làm cho mình xứng đáng bằng những tác phẩm hữu ích và những tập quán không thể chê trách được. Những thể chế của các tập đoàn này, mà để dành cho những giải thưởng mà chúng vinh danh công trạng văn chương, sẽ chọn lựa những chủ đề đúng đắn để làm sống động lại tình yêu đức hạnh trong trái tim của những công dân, sẽ chứng tỏ rằng tình yêu này ngự trị nơi chúng, và sẽ mang cho dân tộc niềm vui thích thật là hiếm hoi và dịu ngọt này đó là được thấy những xã hội thông thái tận tụy trút lên loài người, không chỉ những ánh sáng dễ chịu, mà còn cả những hướng dẫn lành mạnh.

-------------------------------------------


Je l'avoue, cependant; le mal n'est pas aussi grand qu'il aurait pu le devenir. La prévoyance éternelle, en plaçant à côté de diverses plantes nuisibles des simples salutaires, et dans la substance de plusieurs animaux malfaisants le remède à leurs blessures, a enseigné aux souverains qui sont ses ministres à imiter sa sagesse. C'est à son exemple que du sein même des sciences et des arts, sources de mille dérèglements, ce grand monarque dont la gloire ne fera qu'acquérir d'âge en âge un nouvel éclat, tira ces sociétés célèbres chargées à la fois du dangereux dépôt des connaissances humaines, et du dépôt sacré des moeurs, par l'attention qu'elles ont d'en maintenir chez elles toute la pureté, et de l'exiger dans les membres qu'elles reçoivent.

Ces sages institutions affermies par son auguste successeur, et imitées par tous les rois de l'Europe, serviront du moins de frein aux gens de lettres, qui tous aspirant à l'honneur d'être admis dans les Académies, veilleront sur eux-mêmes, et tâcheront de s'en rendre dignes par des ouvrages utiles et des moeurs irréprochables. Celles de ces compagnies, qui pour les prix dont elles honorent le mérite littéraire feront un choix de sujets propres à ranimer l'amour de la vertu dans les coeurs des citoyens, montreront que cet amour règne parmi elles, et donneront aux peuples ce plaisir si rare et si doux de voir des sociétés savantes se dévouer à verser sur le genre humain, non seulement des lumières agréables, mais aussi des instructions salutaires.

mardi 2 juillet 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (22)


Các khu vườn của chúng ta được trang hoàng với những bức tượng và các phòng trưng bày với những bức tranh. Các bạn nghĩ là chúng thể hiện điều gì những kiệt tác này của nghệ thuật được trưng bày cho sự ngưỡng mộ của công chúng ? Những người bảo vệ tổ quốc ư ? hay là những con người còn vĩ đại hơn mà họ đã làm giàu cho tổ quốc bằng đức hạnh của họ ? Không. Đó là những hình ảnh của tất cả những sự lầm lạc của trái tim và của lý trí, được chăm chút rút ra từ thần thoại cổ, và được giới thiệu từ rất sớm cho sự tò mò của con trẻ của chúng ta; chắc hẳn là để cho chúng có trước mắt mình những hình mẫu của những hành động xấu, ngay cả trước khi biết đọc.

Từ đâu mà sinh ra tất cả những lạm dụng này, nếu không phải từ sự bất bình đẳng tang tóc giữa con người bởi sự danh giá của tài năng và sự hèn kém của đức hạnh ? Đó là hiệu quả hiển nhiên của tất cả sự học hành của chúng ta, và là hậu quả nguy hiểm nhất của nó. Người ta không hỏi về một người xem anh ta có lòng trung thực hay không, mà hỏi xem anh ta có tài năng không; cũng không hỏi về một cuốn sách xem nó có hữu dụng không, mà là nó được viết có hay không. Những phần thưởng được ban phát cho trí tuệ đẹp, và đức hạnh đành chịu không có vinh dự. Có hàng ngàn giải thưởng cho các bài luận hay, không có giải nào cho những hành động đẹp. Thì tuy nhiên người ta hãy nói cho tôi biết, liệu vinh quang gắn với bài luận hay nhất mà nó sẽ được đăng quang bởi Viện hàn lâm này có so sánh được với công trình đã lập ra giải thưởng hay không ?

Nhà hiền triết không chạy theo của cải, nhưng ông không vô cảm với vinh quang; và khi ông thấy nó được phân chia kém đến thế, thì đức hanh của ông, mà một chút thi đua đã có thể làm sôi động lên và trở nên có lợi cho xã hội, nó rơi vào suy nhược, và tắt ngấm đi trong sự nghèo khổ và lãng quên. Đó là cái điều mà về lâu về dài phải sản sinh ra ở mọi nơi việc ưa thích những tài năng dễ chịu hơn những tài năng hữu ích, và là điều mà kinh nghiệm đã khẳng định quá rõ từ sự canh tân của khoa học và nghệ thuật. Chúng ta có những nhà vật lý, hình học, hóa học, thiên văn học, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ; chúng ta không có công dân nữa; hoặc nếu chúng ta còn có họ, rải rác trong những vùng nông thôn bị bỏ quên, thì họ chết đi ở đó thiếu đói và bị khinh bỉ. Đó là tình trạng mà họ bị hạ thấp xuống, đó là những tình cảm mà họ nhận được từ chúng ta, những người cho chúng ta bánh mì và đem sữa cho trẻ con của chúng ta.

------------------------------------------------- 
 
Nos jardins sont ornés de statues et nos galeries de tableaux. Que penseriez-vous que représentent ces chefs-d'oeuvre de l'art exposés à l'admiration publique? Les défenseurs de la patrie? ou ces hommes plus grands encore qui l'ont enrichie par leurs vertus? Non. Ce sont des images de tous les égarements du coeur et de la raison, tirées soigneusement de l'ancienne mythologie, et présentées de bonne heure à la curiosité de nos enfants; sans doute afin qu'ils aient sous leurs yeux des modèles de mauvaises actions, avant même que de savoir lire.
D'où naissent tous ces abus, si ce n'est de l'inégalité funeste introduite entre les hommes par la distinction des talents et par l'avilissement des vertus? Voilà l'effet le plus évident de toutes nos études, et la plus dangereuse de toutes leurs conséquences. On ne demande plus d'un homme s'il a de la probité, mais s'il a des talents; ni d'un livre s'il est utile, mais s'il est bien écrit. Les récompenses sont prodiguées au bel esprit, et la vertu reste sans honneurs. Il y a mille prix pour les beaux discours, aucun pour les belles actions. Qu'on me dise, cependant, si la gloire attachée au meilleur des discours qui seront couronnés dans cette Académie est comparable au mérite d'en avoir fondé le prix ?
Le sage ne court point après la fortune; mais il n'est pas insensible à la gloire; et quand il la voit si mal distribuée, sa vertu, qu'un peu d'émulation aurait animée et rendue avantageuse à la société, tombe en langueur, et s'éteint dans la misère et dans l'oubli. Voilà ce qu'à la longue doit produire partout la préférence des talents agréables sur les talents utiles, et ce que l'expérience n'a que trop confirmé depuis le renouvellement des sciences et des arts. Nous avons des physiciens, des géomètres, des chimistes, des astronomes, des poètes, des musiciens, des peintres; nous n'avons plus de citoyens; ou s'il nous en reste encore, dispersés dans nos campagnes abandonnées, ils y périssent indigents et méprisés. Tel est l'état où sont réduits, tels sont les sentiments qu'obtiennent de nous ceux qui nous donnent du pain, et qui donnent du lait à nos enfants.


dimanche 30 juin 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (21)


Nếu việc trau giồi khoa học có hại cho những phẩm chất chiến binh, thì nó còn có hại hơn cho những phẩm chất đạo đức. Chính là ngay từ những năm đầu tiên của chúng ta mà một nền giáo dục điên rồ trang trí cho trí tuệ của chúng ta và làm hư hỏng sự phán xét của chúng ta. Tôi thấy từ khắp mọi phía những cơ sở mênh mông, nơi người ta nuôi dạy với chi phí lớn tuổi trẻ để dạy cho nó mọi điều, ngoại trừ những bổn phận của nó. Những đứa trẻ của các bạn sẽ không biết ngôn ngữ của chính chúng, nhưng chúng sẽ nói những ngôn ngữ khác chẳng được sử dụng ở nơi nào cả: chúng sẽ biết sáng tác những vần thơ mà chúng gần như không thể hiểu: không biết cách tách rời sai lầm khỏi sự thật, chúng sẽ sở hữu nghệ thuật làm cho những điều đó trở nên không nhận ra được cho những người khác bởi những lý lẽ y như thật. Nhưng những từ như cao thượng, điều độ, nhân ái, dũng cảm, chúng sẽ không biết nghĩa là gì; cái danh từ tổ quốc êm dịu sẽ không bao giờ đập vào tai chúng; và nếu chúng nghe nói về Thiên Chúa, thì đó sẽ ít là để e ngại hơn là để sợ hãi (ghi chú 8)? Tôi cũng sẽ thích là học sinh của tôi tiêu khiển trong một trò chơi đánh bóng, ít nhất thì cơ thể sẽ khỏe mạnh hơn. Tôi biết là cần khiến cho trẻ bận rộn, và rằng sự nhàn rỗi đỗi với chúng là mối nguy hiếm đáng ngại nhất. Vậy thì chúng cần học điều gì ? Đó hẳn là một câu hỏi hay! Chúng cần học điều mà chúng phải làm khi là người lớn (ghi chú 9); chứ không phải điều mà chúng phải quên.

(Ghi chú 8) Tư tưởng triết học.
(Ghi chú 9) Nền giáo dục của người dân Spartiates đã là như vậy, theo như cáo trình của vị vua lớn nhất của họ. Đó là, Montaigne nói, điều xứng đáng với một sự quan tâm lớn, rằng nơi cái luật lệ tuyệt vời của Lycurgue, và nơi sự thật quái gở bởi sự hoàn hảo của nó, mà chăm chút kỹ đến thế đến thức ăn của trẻ con; như là trách nhiệm chính của nó, và ngay cả nơi ở của các Nàng thơ, thì học thuyết cũng rất ít được đề cập đến, như thể là, cái tuổi trẻ hào hiệp này mà nó khinh thường mọi cái ách khác, người ta đã có thể cung cấp cho nó, thay vì những bậc thầy của chúng ta về khoa học, thì chỉ cần những người thầy về lòng can đảm, thận trọng và công bằng.

Bây giờ chúng ta hãy xem cũng tác giả ấy nói về những người Ba Tư cổ như thế nào. Platon, ông ấy nói, kể rằng là Hoàng Thái Tử kế vị hoàng tộc đã được nuôi nấng như thế. Sau khi ngài được sinh ra, người ta trao ngài, không phải cho những người phụ nữ, mà là cho những hoạn quan quyền lực hàng đầu bên đức vua, vì đức hạnh của họ. Những người này chịu trách nhiệm khiến cho ngài có thân thể đẹp và lành mạnh, và sau bảy năm họ dạy ngài cưỡi ngựa và đi săn. Khi ngài đạt đến tuổi mười bốn, họ đặt ngài vào tay của bốn vị : người khôn ngoan nhất, người công bình nhất, người ôn hòa nhất và người dũng cảm nhất của đất nước. Người đầu tiên dạy ngài học tôn giáo, người thứ nhì dạy ngài luôn luôn đúng, người thứ ba dạy chiến thắng những sự tham lam, người thứ tư dạy không sợ điều gì. Tất cả họ đều khiến ngài tốt, và không có ai khiến ngài thông thái.

Astyage, theo Xénophone, yêu cầu Cyrus trình bày về bài học cuối cùng của ông : đó là, ông ấy nói, ở trường học của chúng tôi một thằng bé lớn có một cái áo khoác nhỏ bèn đưa nó cho một trong những bạn đồng hành của nó có tầm vóc nhỏ hơn, và tước mất của nó cái áo khoác lớn hơn. Thầy của chúng tôi đã cho tôi phán xử tranh chấp này, tôi phán rằng cần phải để mọi thứ trong tình trạng như vậy, và cả đứa này lẫn đứa kia đều có vẻ thuận tiện hơn về điểm này. Từ đó, ông khiển trách rằng tôi đã làm sai : bởi tôi đã chỉ dừng lại ở chỗ xem xét sự tiện lợi : và đầu tiên là cần phải phục vụ công lý, mà nó muốn rằng không ai bị bắt buộc về cái điều thuộc về mình. Và nói rằng nó phải bị phạt, như là người ta phạt chúng ta ở trong làng vì đã quên mất thì quá khứ đầu tiên của từ ... Ngài quan nhiếp chính đã làm cho tôi một bài diễn văn hay, để chứng minh khái quát, trước khi mà ông thuyết phục tôi rằng trường học của ông xứng đáng với bài diễn văn ấy.

-------------------------------------------- 
Si la culture des sciences est nuisible aux qualités guerrières, elle l'est encore plus aux qualités morales. C'est dès nos premières années qu'une éducation insensée orne notre esprit et corrompt notre jugement. Je vois de toutes parts des établissements immenses, où l'on élève à grands frais la jeunesse pour lui apprendre toutes choses, excepté ses devoirs. Vos enfants ignoreront leur propre langue, mais ils en parleront d'autres qui ne sont en usage nulle part: ils sauront composer des vers qu'à peine ils pourront comprendre: sans savoir démêler l'erreur de la vérité, ils posséderont l'art de les rendre méconnaissables aux autres par des arguments spécieux: mais ces mots de magnanimité, de tempérance, d'humanité, de courage, ils ne sauront ce que c'est; ce doux nom de patrie ne frappera jamais leur oreille; et s'ils entendent parler de Dieu, ce sera moins pour le craindre que pour en avoir peur (note 8). J'aimerais autant, disait un sage, que mon écolier eût passé le temps dans un jeu de paume, au moins le corps en serait plus dispos. Je sais qu'il faut occuper les enfants, et que l'oisiveté est pour eux le danger le plus à craindre. Que faut-il donc qu'ils apprennent? Voilà certes une belle question! Qu'ils apprennent ce qu'ils doivent faire étant hommes (note 9) ; et non ce qu'ils doivent oublier.

(Note 8) Pens. philosoph.
(Note 9) Telle était l'éducation des Spartiates, au rapport du plus grand de leurs rois. C'est, dit Montaigne, chose digne de très grande considération, qu'en cette excellente police de Lycurgue, et à la vérité monstrueuse par sa perfection, si soigneuse pourtant de la nourriture des enfants, comme de sa principale charge, et au gîte même des Muses, il s'y fasse si peu mention de la doctrine: comme si, cette généreuse jeunesse dédaignant tout autre joug, on ait dû lui fournir, au lieu de nos maîtres de science, seulement des maîtres de vaillance, prudence et justice.
Voyons maintenant comment le même auteur parle des anciens perses. Platon, dit-il, raconte que le fils aîné de leur succession royale était ainsi nourri. Après sa naissance, on le donnait, non à des femmes, mais à des eunuques de la première autorité près du roi, à cause de leur vertu. Ceux-ci prenaient charge de lui rendre le corps beau et sain, et après sept ans le conduisaient à monter à cheval et aller à la chasse. Quand il était arrivé au quatorzième, ils le posaient entre les mains de quatre: le plus sage, le plus juste, le plus tempérant et le plus vaillant de la nation. Le premier lui apprenait la religion, le second à être toujours véritable, le tiers à vaincre ses cupidités, le quart à ne rien craindre. Tous, ajouterai-je, à le rendre bon, aucun à le rendre savant.
Astyage, en Xénophon, demande à Cyrus compte de sa dernière leçon: c'est, dit-il, qu'en notre école un grand garçon ayant un petit saye le donna à l'un de ses compagnons de plus petite taille, et lui ôta son saye qui était plus grand. Notre précepteur m'ayant fait juge de ce différend, je jugeai qu'il fallait laisser les choses en cet état, et que l'un et l'autre semblait être mieux accommodé en ce point. Sur quoi, il me remontra que j'avais mal fait: car je m'étais arrêté à considérer la bienséance; et il fallait premièrement avoir pourvu à la justice, qui voulait que nul ne fût forcé en ce qui lui appartenait. Et dit qu'il en fût puni, comme on nous punit en nos villages pour avoir oublié le premier aoriste de... Mon régent me ferait une belle harangue, in genere demonstrativo, avant qu'il me persuadât que son école vaut celle-là.




jeudi 27 juin 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (20)


Những nền cộng hòa cổ xưa của Hy Lạp với sự khôn ngoan ngời sáng trong đa phần các thể chế của họ đã cấm công dân họ tất cả những nghề nghiệp yên tĩnh và ít vân động này mà trong khi chúng làm suy sụp và hư hỏng thân thể, thì cũng làm yếu đi ngay sự mạnh mẽ của tâm hồn. Quả vậy, người ta nghĩ là với con mắt nào mà có thể thăm dò cái đói, cái khát, những sự mệt mỏi, những nguy hiểm và cái chết, những con người mà nhu cầu nhỏ nhất cũng đè nặng họ và nỗi khổ bé nhất cũng làm chùn bước ? Với lòng can đảm nào những người lính sẽ chịu đựng những công việc quá sức mà họ không hề có thói quen ? Với nhiệt tình nào họ sẽ hành quân bắt buộc dưới lệnh của những sĩ quan còn không có cả sức để đi ngựa ? Người ta đừng có phản biện tôi cái giá trị nổi tiếng của tất cả những chiến binh hiện đại này mà họ có kỷ luât một cách thông thái đến thế. Người ta cứ việc khoe về lòng can đảm của họ trong một ngày chiến trận, nhưng họ đừng có kể cho tôi nghe xem họ chịu đựng được sự quá tải công việc ra sao, họ kháng cự lại sự khắc nghiệt của các mùa và thời tiết bất ổn của không khí như thế nào. Chỉ cần một chút mặt trời hoặc là một chút tuyết, chỉ cần tước bớt một vài sự thừa thãi là đủ để làm tan chảy và tàn phá trong vòng vài ngày quân đội thiện chiến nhất của các bạn. Hỡi những chiến binh quả cảm, hãy chịu đựng sự thật này mà các bạn hiếm khi được nghe thấy; các bạn thật can trường, tôi biết thế; các bạn đã có thể chiến thắng Annibal ở Cannes và ở Trasimène; Cesar đã có thể cùng các bạn vượt qua sông Rubicon và nô dịch đất nước của ông; nhưng sẽ chẳng phải là cùng với các bạn mà người đầu tiên đã vượt qua dãy Alpes, và người kia đã chiến thắng tổ tiên của các bạn.

Các trận đấu không phải luôn luôn làm nên thành công của chiến tranh, và đối với các vị tướng thì có một nghệ thuật cao hơn là nghệ thuật thắng trận. Người này xông vào lửa đạn với lòng can đảm, cũng đâu phải không là một sĩ quan tồi : ngay cả trong mỗi người lính, một chút sức lực và sức mạnh nhiều hơn có lẽ sẽ cần thiết hơn là bao nhiêu lòng dũng cảm mà nó không đảm bảo cho chàng khỏi chết; và đâu có quan trọng đối với Nhà nước là những đội quân của nó chết vì sốt và lạnh, hay bởi lưỡi gươm của kẻ thù ?

--------------------------------------- 
Les anciennes républiques de la Grèce avec cette sagesse qui brillait dans la plupart de leurs institutions avaient interdit à leurs citoyens tous ces métiers tranquilles et sédentaires qui, en affaissant et corrompant le corps, énervent sitôt la vigueur de l'âme. De quel oeil, en effet, pense-t-on que puissent envisager la faim, la soif, les fatigues, les dangers et la mort, des hommes que le moindre besoin accable et que la moindre peine rebute? Avec quel courage les soldats supporteront-ils des travaux excessifs dont ils n'ont aucune habitude? Avec quel ardeur feront-ils des marches forcées sous des officiers qui n'ont même pas la force de voyager à cheval? Qu'on ne m'objecte point la valeur renommée de tous ces modernes guerriers si savamment disciplinés. On me vante bien leur bravoure en un jour de bataille, mais on ne me dit point comment ils supportent l'excès de travail, comment ils résistent à la rigueur des saisons et aux intempéries de l'air. Il ne faut qu'un peu de soleil ou de neige, il ne faut que la privation de quelques superfluités pour fondre et détruire en peu de jours la meilleure de nos armées. Guerriers intrépides, souffrez une fois la vérité qu'il vous est si rare d'entendre; vous êtes braves, je le sais; vous eussiez triomphé avec Annibal à Cannes et à Trasimène; César avec vous eût passé le Rubicon et asservi son pays; mais ce n'est point avec vous que le premier eût traversé les Alpes, et que l'autre eût vaincu vos aïeux.
Les combats ne font pas toujours le succès de la guerre, et il est pour les généraux un art supérieur à celui de gagner des batailles. Tel court au feu avec intrépidité, qui ne laisse pas d'être un très mauvais officier: dans le soldat même, un peu plus de force et de vigueur serait peut-être plus nécessaire que tant de bravoure qui ne le garantit pas de la mort; et qu'importe à l'Etat que ses troupes périssent par la fièvre et le froid, ou par le fer de l'ennemi ?


mardi 25 juin 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (19)


Trong khi mà những tiện nghi trong cuộc sống nhân lên, những nghệ thuật hoàn hảo lên và xa hoa trải rộng; lòng can đảm chân chính suy yếu, những phẩm hạnh quân sự lịm đi, và đó vẫn là tác phẩm của khoa học và của tất cả những nghệ thuật này đang thao túng trong bóng tối của căn phòng. Khi những người Goths tàn phá Hy Lạp, tất cả các thư viện chỉ được cứu khỏi lửa nhờ cái ý kiến được gieo bởi một người trong số họ, rằng là cần phải để lại cho kẻ thù những đồ đạc chuyên dụng để làm chúng đổi hướng khỏi luyện tập quân sự và khiến chúng vui thích với những bận rộn nhàn rỗi và ít vận động. Charles VIII đã thấy mình trở nên chủ nhân của Toscane và của vương quốc Naples mà gần như không phải rút kiếm ra; và tất cả triều đình của ngài gán sự dễ dàng không ngờ này cho sự việc là những ông hoàng và giới quý tộc Italie đã vui thú trong việc khiến mình trở nên tài tình và thông thái hơn là luyện tập để trở nên mạnh mẽ và thiện chiến. Quả vậy, con người có lương tri nói khi thuật lại hai đặc điểm này, tất cả những ví dụ đều dạy cho chúng ta rằng trong luật lệ chiến đấu và trong tất cả những luật lệ giống với nó, thì việc học các khoa học thật là thích hợp trong việc làm mềm yếu và ẻo lả đi những lòng can đảm hơn là làm chúng mạnh mẽ và sống động.

Những người La Mã đã thú nhận rằng phẩm hạnh quân sự đã tắt đi nơi họ khi họ bắt đầu càng hiểu biết về những bức tranh, những bức chạm khắc, những bình mỹ nghệ, và vun trồng mỹ thuật; và như thể là cái vùng đất trứ danh này đã được định phận vào việc không ngừng dùng làm ví dụ cho những dân tộc khác, sự nổi lên của dòng họ Medicis và sự phục hồi của văn chương đã làm rơi rụng một lần nữa và có lẽ là mãi mãi cái danh tiếng thiện chiến mà Italie có vẻ đã khôi phục lại được từ cách đây vài thế kỷ.

------------------------------------- 
Tandis que les commodités de la vie se multiplient, que les arts se perfectionnent et que le luxe s'étend; le vrai courage s'énerve, les vertus militaires s'évanouissent, et c'est encore l'ouvrage des sciences et de tous ces arts qui s'exercent dans l'ombre du cabinet. Quand les Goths ravagèrent la Grèce, toutes les bibliothèques ne furent sauvées du feu que par cette opinion semée par l'un d'entre eux, qu'il fallait laisser aux ennemis des meubles si propres à les détourner de l'exercice militaire et à les amuser à des occupations oisives et sédentaires. Charles VIII se vit maître de la Toscane et du royaume de Naples sans avoir presque tiré l'épée; et toute sa cour attribua cette facilité inespérée à ce que les princes et la noblesse d'Italie s'amusaient plus à se rendre ingénieux et savants qu'ils ne s'exerçaient à devenir vigoureux et guerriers. En effet, dit l'homme de sens qui rapporte ces deux traits, tous les exemples nous apprennent qu'en cette martiale police et en toutes celles qui lui sont semblables, l'étude des sciences est bien plus propre à amollir et efféminer les courages qu'à les affermir et les animer.
Les Romains ont avoué que la vertu militaire s'était éteinte parmi eux à mesure qu'ils avaient commencé à se connaître en tableaux, en gravures, en vases d'orfèvrerie, et à cultiver les beaux-arts; et comme si cette contrée fameuse était destinée à servir sans cesse d'exemple aux autres peuples, l'élévation des Médicis et le rétablissement des lettres ont fait tomber derechef et peut-être pour toujours cette réputation guerrière que l'Italie semblait voir recouvrée il y a quelques siècles.



 

lundi 24 juin 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (18)


Chính như thế mà sự tan rã của thuần phong mỹ tục, tiếp nối tất yếu của xa hoa, kéo theo đến lượt nó sự hư hỏng của thị hiếu. Nếu mà tình cờ giữa những con người phi thường bởi tài năng của họ, có được người nào có tâm hồn cứng cỏi và từ chối nhượng mình cho thiên tài của thế kỷ của chàng cũng như là tự làm mình thấp hèn đi bởi những sáng tác trẻ con, thì khốn thay cho chàng ! Chàng sẽ chết trong nghèo đói và lãng quên. Mong rằng đây chỉ là một tiên lượng mà tôi đoán chứ không phải là một kinh nghiệm mà tôi kể lại. Carle, Pierre, đã đến lúc mà cây cọ vẽ dành để tăng thêm sự uy nghi của những đền thờ của chúng ta với những hình ảnh cao cả và thánh thiện, sẽ rơi khỏi tay của các ngài, hoặc sẽ bị mại dâm hóa cho việc trang trí với những bức tranh dâm đãng những tấm tường của nhà đối diện. Còn ngài, đối thủ của những Praxitèle và những Phidias; ngài mà người xưa hẳn đã mượn cây đục để tạo nên cho họ những vị thần có khả năng khiến tha thứ dưới mắt chúng ta sự sùng bái thần tượng của họ; ngài Pigalle không thể bắt chước, bàn tay ngài sẽ phải chịu nhận tạc bụng của một con khỉ mặt đỏ, hoặc là nó sẽ phải chịu nhàn rỗi.

Ta không thể suy nghĩ về thuần phong mỹ tục mà không vui lòng nhớ lại hình ảnh của sự giản dị của những thời đầu tiên. Đó là một bờ bến đẹp, được trang hoàng chỉ bởi bàn tay của tự nhiên, mà người ta không ngừng dõi mắt theo, mà người ta cảm thấy lùi xa trong tiếc nuối. Khi những con người ngây thơ và đạo đức đã thích có các vị thần làm nhân chứng cho hành động của họ, thì cả hai bên đã sống cùng nhau dưới cùng những mái lều; nhưng mau chóng trở nên độc ác, họ chán ngán những khán giả bất tiện này và xếp họ vào trong những đền thờ lộng lẫy. Rồi cuối cùng con người đuổi họ ra khỏi đó để chính mình ngự luôn ở trong, hoặc chí ít là những đền thờ của các vị thần không phân biệt được nữa với các ngôi nhà của công dân. Khi đó là mức cao nhất của đồi bại; và những thói xấu đã chưa từng bao giờ được đẩy xa đến thế khi người ta thấy chúng, có thể nói như vậy, được chăm chút nơi lối vào của những cung điện của các ông lớn trên những cột cẩm thạch, và được khắc lên trên những đỉnh cột theo kiểu Corinthe.

------------------------------------------ 
 
C'est ainsi que la dissolution des moeurs, suite nécessaire du luxe, entraîne à son tour la corruption du goût. Que si par hasard entre les hommes extraordinaires par leurs talents, il s'en trouve quelqu'un qui ait de la fermeté dans l'âme et qui refuse de se prêter au génie de son siècle et de s'avilir par des productions puériles, malheur à lui! Il mourra dans l'indigence et dans l'oubli. Que n'est-ce ici un pronostic que je fais et non une expérience que je rapporte! Carle, Pierre, le moment est venu où ce pinceau destiné a augmenter la majesté de nos temples par des images sublimes et saintes, tombera de vos mains, ou sera prostitué à orner de peintures lascives les panneaux d'un vis-à-vis. Et toi, rival des Praxitèle et des Phidias; toi dont les anciens auraient employé le ciseau à leur faire des dieux capables d'excuser à nos yeux leur idolâtrie; inimitable Pigalle, ta main se résoudra à ravaler le ventre d'un magot, ou il faudra qu'elle demeure oisive.
On ne peut réfléchir sur les moeurs, qu'on ne se plaise à se rappeler l'image de la simplicité des premiers temps. C'est un beau rivage, paré des seules mains de la nature, vers lequel on tourne incessamment les yeux, et dont on se sent éloigner à regret. Quand les hommes innocents et vertueux aimaient à avoir les dieux pour témoins de leurs actions, ils habitaient ensemble sous les mêmes cabanes; mais bientôt devenus méchants, ils se lassèrent de ces incommodes spectateurs et les reléguèrent dans des temples magnifiques. Ils les en chassèrent enfin pour s'y établir eux-mêmes, ou du moins les temples des dieux ne se distinguèrent plus des maisons des citoyens. Ce fut alors le comble de la dépravation; et les vices ne furent jamais poussés plus loin que quand on les vit, pour ainsi dire, soutenus à l'entrée des palais des Grands sur des colonnes de marbre, et gravés sur des chapiteaux corinthiens.


dimanche 23 juin 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (17)


Nghệ sĩ nào cũng muốn được hoan nghênh. Những lời ca tụng của những người cùng thời của chàng là phần quan trọng nhất trong phần thưởng của chàng. Vậy chàng sẽ làm gì để đạt được chúng, nếu bất hạnh thay chàng được sinh ra nơi một dân tộc và trong một thời đại mà các nhà thông thái trở thành trào lưu khiến cho tuổi trẻ phù phiếm được dùng làm mẫu mực; nơi mà con người đã hy sinh thị hiếu của họ cho những bạo chúa của tự do của họ (ghi chú 7), nơi mà một trong hai giới chỉ dám tán thưởng điều gì tỉ lệ thuận với sự hèn nhát của giới kia, người ta bỏ qua những kiệt tác của thơ bi kịch, và những tác phẩm hài hòa tuyệt diệu bị khước từ ? Điều chàng sẽ làm, thưa các ngài ? Chàng sẽ hạ thấp thiên tài của mình xuống mức của thế kỷ, và sẽ thích sáng tác những tác phẩm thông thường mà người ta ngưỡng mộ trong đời chàng hơn là những điều kỳ diệu mà người ta sẽ còn ngưỡng mộ rất lâu sau khi chàng chết. Hãy nói cho chúng tôi hay, hỡi Arouet nổi tiếng (tôi nghĩ là Rousseau nói về Voltaire - PLS), ngài đã hy sinh bao nhiêu vẻ đẹp nam tính và mạnh mẽ cho sự tinh tế giả tạo của chúng ta, và tinh thần lịch lãm rất giàu về những điều nhỏ bé đã đáng giá cho chúng ta bao nhiêu điều lớn lao.

(Ghi chú 7) Tôi còn xa mới nghĩ rằng uy thế đang lên của phụ nữ là một điều gì xấu trong chính nó. Đó là một món quà mà tự nhiên đã dành cho họ vì hạnh phúc của con người : được hướng dẫn tốt hớn, nó sẽ tạo ra bấy nhiêu điều tốt lành cũng như là ngày nay nó tạo ra điều xấu. Người ta không cảm thấy được đủ những lợi thế nào sẽ được sinh ra trong xã hội mà một sự giáo dục tốt hơn được tặng cho cái nửa này của nhân loại mà nó chỉ huy nửa kia. Những người đàn ông sẽ luôn luôn làm những gì làm vui lòng phụ nữ : nếu các ngài muốn họ trở nên cao thượng và đức hạnh, thì hãy dạy cho phụ nữ biết tâm hồn cao thượng và đạo đức là gì. Những suy nghĩ mà đề tài này cung cấp, mà Platon đã từng làm ngày xưa, thật xứng đáng được khai triển tốt hơn bởi một ngòi bút xứng đáng viết theo một người thầy như thế và bảo vệ một chính nghĩa lớn đến thế.

---------------------------------------- 
Tout artiste veut être applaudi. Les éloges de ses contemporains sont la partie la plus précieuse de sa récompense. Que fera-t-il donc pour les obtenir, s'il a le malheur d'être né chez un peuple et dans des temps où les savants devenus à la mode ont mis une jeunesse frivole en état de donner le ton; où les hommes ont sacrifié leur goût aux tyrans de leur liberté (note 7); où l'un des sexes n'osant approuver que ce qui est proportionné à la pusillanimité de l'autre, on laisse tomber des chefs-d'�uvre de poésie dramatique, et des prodiges d'harmonie sont rebutés? Ce qu'il fera, messieurs? Il rabaissera son génie au niveau de son siècle, et aimera mieux composer des ouvrages communs qu'on admire pendant sa vie que des merveilles qu'on n'admirerait que longtemps après sa mort. Dites-nous, célèbre Arouet, combien vous avez sacrifié de beautés mâles et fortes à notre fausse délicatesse, et combien l'esprit de la galanterie si fertile en petites choses vous en a coûté de grandes.


(Note 7) Je suis bien éloigné de penser que cet ascendant des femmes soit un mal en soi. C'est un présent que leur a fait la nature pour le bonheur du genre humain: mieux dirigé, il pourrait produire autant de bien qu'il fait de mal aujourd'hui. On ne sent point assez quels avantages naîtraient dans la société d'une meilleure éducation donnée à cette moitié du genre humain qui gouverne l'autre. Les hommes feront toujours ce qu'il plaira aux femmes: si vous voulez donc qu'ils deviennent grands et vertueux, apprenez aux femmes ce que c'est que grandeur d'âme et vertu. Les réflexions que se sujet fournit, et que Platon a faites autrefois, mériteraient fort d'être mieux développées par une plume digne d'écrire d'après un tel maître et de défendre une si grande cause.

samedi 22 juin 2013

Luận về khoa học và nghệ thuật - JJR (16)


Lạm dụng thời gian là điều rất xấu. Những điều xấu khác còn tệ hơn thế theo sau văn chương và nghệ thuật. Cũng như vậy là sự xa hoa, được sinh ra như chúng từ sự rảnh rỗi và sự kiêu ngạo của con người. Sự xa hoa hiếm khi không đi cùng khoa học và nghệ thuật, và không bao giờ khoa học và nghệ thuật lại không đi cùng nó. Tôi biết là triết học của chúng ta, luôn luôn phì nhiêu về những châm ngôn lạ lùng, cho rằng, ngược lại với kinh nghiệm của mọi thế kỷ, là sự xa hoa làm nên vẻ huy hoàng của các nhà nước; nhưng sau khi đã quên đi sự cần thiết của các đạo luật về tiêu pha, liệu triết học có còn dám chối rằng thuần phong mỹ tục mới là thiết yếu cho sự bền lâu của các đế chế, và rằng sự xa hoa là hoàn toàn đối ngược với thuần phong mỹ tục ? Thì sự xa hoa là một dấu hiệu chắc chắn của sự giàu có; thì nó giúp ích, nếu ta muốn, cho việc nhân lên sự giàu có : Vậy sẽ cần kết luận gì về cái nghịch lý thật xứng đáng được sinh ra từ thời đại của chúng ta; và đức hạnh sẽ trở thành gì, nếu sẽ cần phải làm giàu bằng bất cứ giá nào ? Những chính khách xưa không ngừng nói về tập quán và đức hạnh; những chính khách của chúng ta chỉ nói về thương mại và tiền. Người này sẽ nói cho bạn rằng một người đáng giá ở vùng nào đó số tiến mà người ta sẽ bán nó ở Alger; một người khác theo cách tính toán này sẽ tìm ra những nước mà ở đó con người không đáng giá gì cả, và những nước khác mà ở đó nó đáng giá còn kém hơn không là gì cả. Họ đánh giá con người như những bầy gia súc. Theo họ, một con người chỉ đáng giá cho nhà nước bằng sự tiêu thụ mà nó thực hiện ở đó. Như vậy một người dân Sybaris có lẽ sẽ đáng giá hẳn bằng ba mươi người Lacédémone. Thì người ta thử đoán xem nước nào trong số hai nền Cộng hòa này, Sparte hay là Sybaris, đã bị khuất phục bởi một nhúm nông dân, và nước nào đã làm run sợ cả châu Á.

Nền quân chủ của các vua Cyrus đã bị chinh phục với ba mươi ngàn người bởi một ông hoàng nghèo hơn một quan trấn thủ nhỏ nhất ở Ba Tư; và những người Scythe, dân tộc nghèo hèn nhất trong tất cả, đã kháng cự lại được những vị vua hùng mạnh nhất của vũ trụ. Hai nền cộng hòa lừng danh tranh giành nhau đế chế của thế giới; nước này rất giàu, nước kia chẳng có gì, và chính là nước này đã tiêu hủy nước kia. Đế chế La Mã, đến lượt nó, sau khi đã nuốt trọng tất cả những của cải của vũ trụ, lại làm mồi cho những kẻ thậm chí không biết giàu có là gì. Những người Francs chinh phục xứ Gaules, những người Saxons chinh phục nước Anh không cần kho báu nào khác hơn là lòng can đảm và sự nghèo khổ của họ. Mội đội quân những người miền núi nghèo khổ mà tất cả sự thèm muốn chỉ đơn thuần là vài miếng da cừu, sau khi đã chế ngự niềm tự hào nước Áo, đã nghiền nát Ngôi nhà Bourgogne sang trọng và đáng sợ mà đã làm run sợ những quyền lực cao nhất của châu Âu. Cuối cùng là tất cả sự hùng mạnh và tất cả sự khôn ngoan của người kế vị Charles Quint, được hỗ trợ bởi tất cả những kho tàng của Ấn Độ, đã lao vào vỡ tan nơi một nhóm những người đánh cá trích. Mong các thể chế chính trị của chúng ta đoái tới việc tạm ngưng những tính toán của họ để suy nghĩ về những ví dụ này, và mong họ học được chỉ một lần rằng người ta có thể có mọi thứ với tiền, ngoại trừ thuần phong mỹ tục và những công dân.

Vậy vấn đề chính xác trong câu hỏi về sự xa hoa này là gì ? Là biết được điều gì quan trọng nhất đối với các đế chế, là chói sáng và tạm thời, hay là đạo đức và lâu bền. Tôi nói chói sáng, nhưng là với sự rực rỡ nào ? Thị hiếu về sự tráng lệ không hề kết hợp được trong cùng những tâm hồn với thị hiếu về sự lương thiện. Không, không thể nào những trí tuệ suy thoái bởi vô số những chăm chút phù phiếm lại có bao giờ nâng mình lên tới điều gì lớn lao; và khi chúng có được sức mạnh cho điều ấy, thì chúng sẽ lại thiếu lòng can đảm.

------------------------------------- 
C'est un grand mal que l'abus du temps. D'autre maux pires encore suivent les lettres et les arts. Tel est le luxe, né comme eux de l'oisiveté et de la vanité des hommes. Le luxe va rarement sans les sciences et les arts, et jamais ils ne vont sans lui. Je sais que notre philosophie, toujours féconde en maximes singulières, prétend, contre l'expérience de tous les siècles, que le luxe fait la splendeur des Etats; mais après avoir oublié la nécessité des lois somptuaires, osera-t-elle nier encore que les bonnes moeurs ne soit essentielles à la durée des empires, et que le luxe ne soit diamétralement opposé aux bonnes moeurs? Que le luxe soit un signe certain des richesses; qu'il serve même si l'on veut à les multiplier: Que faudra-t-il conclure de ce paradoxe si digne d'être né de nos jours; et que deviendra la vertu, quand il faudra s'enrichir à quelque prix que ce soit? Les anciens politiques parlaient sans cesse de moeurs et de vertu; les nôtres ne parlent que de commerce et d'argent. L'un vous dira qu'un homme vaut en telle contrée la somme qu'on le vendrait à Alger; un autre en suivant ce calcul trouvera des pays où un homme ne vaut rien, et d'autres où il vaut moins que rien. Ils évaluent les hommes comme des troupeaux de bétail. Selon eux, un homme ne vaut à l'Etat que la consommation qu'il y fait. Ainsi un Sybarite aurait bien valu trente Lacédémoniens. Qu'on devine donc laquelle de ces deux Républiques, de Sparte ou de Sybaris, fut subjuguée par une poignée de paysans, et laquelle fit trembler l'Asie.
La monarchie de Cyrus a été conquise avec trente mille hommes par un prince plus pauvre que le moindre des satrapes de Perse; et les Scythes, le plus misérable de tous les peuples, a résisté aux plus puissants monarques de l'univers. Deux fameuses républiques se disputèrent l'empire du monde; l'une était très riche, l'autre n'avait rien, et ce fut celle-ci qui détruisit l'autre. L'empire romain à son tour, après avoir englouti toutes les richesses de l'univers, fut la proie de gens qui ne savaient pas même ce que c'était que richesse. Les Francs conquirent les Gaules, les Saxons l'Angleterre sans autres trésors que leur bravoure et leur pauvreté. Une troupe de pauvres montagnards dont toute l'avidité se bornait à quelques peaux de moutons, après avoir dompté la fierté autrichienne, écrasa cette opulente et redoutable Maison de Bourgogne qui faisait trembler les potentats de l'Europe. Enfin toute la puissance et toute la sagesse de l'héritier de Charles Quint, soutenues de tous les trésors des Indes, vinrent se briser contre une poignée de pêcheurs de hareng. Que nos politiques daignent suspendre leurs calculs pour réfléchir à ces exemples, et qu'ils apprennent une fois qu'on a de tout avec de l'argent, hormis des moeurs et des citoyens.
De quoi s'agit-il donc précisément dans cette question du luxe? De savoir lequel importe le plus aux empires d'être brillants et momentanés, ou vertueux et durables. Je dis brillant, mais de quel éclat? Le goût du faste ne s'associe guère dans les mêmes âmes avec celui de l'honnête. Non, il n'est pas possible que des esprits dégradés par une multitude de soins futiles s'élèvent jamais à rien de grand; et quand ils en auraient la force, le courage leur manquerait.