vendredi 20 janvier 2012

A propos de Flaubert et Stendhal

Tôi sẽ còn chỉnh sửa thêm bớt và dịch lại bài này, mời các bạn đọc tạm.
 
Nếu phải chọn tựa đề cho bài viết của mình thì tôi sẽ chọn "Emma và Louise, người phụ nữ dại dột hay là người yêu lý tưởng ?". Trong đó người phụ nữ dại dột là Emma Bovary và người kia là Louise de Rénal. Bởi vì cùng nói về nhân vật nữ ngoại tình nhưng rõ ràng là thái độ của Flaubert và Stendhal là khác hẳn. Stendhal thiên về miêu tả nội tâm theo một cách như thể ông ấy là người trong cuộc (có thể tưởng tượng ông ấy chính là nhân vật Julien), còn Flaubert là người ngoài cuộc, ông ấy quan sát nhân vật của mình. Như vậy tôi đoán rằng văn Flaubert thiên về óc quan sát (vì lâu rồi tôi không nhớ rõ lắm). Nếu nhìn dưới góc độ ấy thì chúng ta thấy rằng Emma rất đáng thương (và cô ấy thực sự đáng thương). Thế mà với một kết cục cũng bi thảm gần như thế, thì Louise lại là một người yêu hạnh phúc. Tôi kết luận rằng Stendhal yêu nhân vật nữ của mình, còn Flaubert thì thương xót nhân vật của ông.

Hai nhân vật này có nhiều điểm tương đồng và nhiều điểm trái ngược. Cả hai đều đẹp, đáng yêu, có gia đình. Nhưng Emma có chút học hành (sơ sài) do được giáo dục ở tu viện, và đọc nhiều sách tình sử ủy mị, điều đó khiến cô có nhiều mơ mộng không thực tế và Flaubert cho rằng đó chính là nguyên nhân của sự bất hạnh của cô ấy. Louise, hoàn toàn ngược lại, không được nói là có học hành gì, thậm chí là có vẻ ngoài hơn đơn giản, thậm chí có thể nói là ngốc (Stendhal nói), không đua đòi se sua như Emma, nhưng cuối cùng họ có một kết cục khá giống nhau. Như vậy ta có thể thấy rằng, trái ngược với Flaubert, Stendhal không nghĩ rằng việc học hành có ảnh hưởng gì đến bản chất và số phận của người phụ nữ.

La question qui se pose ici est de savoir si Louise de Rênal est vraiment une amoureuse heureuse comme son écrivain le croit. Elle est amoureuse certes, mais cela est-il suffisant pour la rendre heureuse ? On dirait qu’elle l’est puisqu’elle est aimée de son amant Julien, mais c’est plutôt qu’elle se croit être aimée de lui. Julien avec sa jeunesse et son ambition démesurée semble assumer difficilement le rôle d’un amoureux idéal. Stendhal se tait d’ailleurs longtemps sur les mouvements d’âme de son héroïne pendant la période où Julien courait après son ascension sociale. Les moments de bonheur qu’elle éprouvait se condensaient en leur vie à Verrières, leurs retrouvailles avant le départ de Julien à Paris et enfin leurs dernières rencontres avant la mort de celui-ci. Si nous l’observons d’un regard extérieur comme Flaubert l’a fait, elle ne serait guère plus heureuse qu’Emma Bovary. Elle n’est heureuse que dans le regard de son écrivain, ainsi que par sa propre conscience du bonheur.

Si nous convenons alors qu’aimer et être aimé(e) sont les conditions du bonheur, nous pourrions en déduire que Charles Bovary quant à lui est aussi heureux, car il aime sa femme et se croit être aimé d’elle, et cela au moins jusqu’à la mort de sa femme (il pardonne même à ses infidélités). Le bonheur d’amour est dans ce cas là une conception très individuelle. Emma aurait donc toutes les chances d’être heureuse, ou moins malheureuse, si elle se construisait pour elle-même  son bonheur dans l’ignorance totale de l’opinion des autres. Elle ne l’a pas fait, était-elle donc si simple qu’on le croyait ?

S’il y a vraiment deux personnages qui se ressemblent ici, ce sera plutôt Emma Bovary et Julien Sorel. 

Tout d’abord, ils sont tous les deux les protagonistes de leur roman. J’ai déjà constaté que Stendhal pouvait très bien s’identifier à son personnage principal Julien. Quant à Flaubert, il est dit qu’il a déclaré lui-même : « Madame Bovary,  c’est moi !» (mais les littéraires s’en disputent). Autrement dit, les deux auteurs ont mis beaucoup d’eux-mêmes dans leurs personnages, et nous pouvons y voir en partie leur vision du monde.

Ces deux personnages ont une individualité forte. Tous les deux se préoccupent bien d’eux-mêmes et donc se soucient moins bien des autres. Il n’est pas surprenant qu’ils ne soient pas à l’aise dans la communauté à laquelle ils appartiennent, et cela en partie à cause de leur instruction. Emma est la fille d’un fermier riche. La fortune de son père lui a permis de faire des études dans un couvent, et cette éducation la différerait des autres paysannes. Julien, pareillement, est fils d’un scieur, et qui avait l’occasion de s’instruire, grâce à la protection de M. Chélan, le curé du village. Il est donc différent de ses frères, de son père et des autres villageois. Emma et Julien ont tous les deux de la beauté, de la jeunesse, du charme, ils sont aimés, adorés, Emma de ses hommes, Julien de ses femmes. Tous les deux sont ambitieux et poursuivent avec véhémence l’ascension sociale, puis à la fin se retrouvent dans une situation tragique (la désillusion, la mort) à cause de cette ambition. Enfin, tous les deux entraînent ceux qui les aiment dans leur propre tragédie (Charles et Louise, les enfants).

Les personnages se ressemblent bien, mais ce qui diffère les deux auteurs ici, à mon avis, est leur attitude envers leur personnage.  Comme Emma qui se détruisait a excité de la pitié à ses lecteurs, nous pouvons sentir que Flaubert a de la pitié pour son héroïne, et donc de la compréhension pour elle aussi. Il s’agit donc un comportement altruiste. La fin à la Stendhal semble un peu moins tragique, puisque les deux amants meurent dans la conscience de leur amour, cette fin plaît plutôt à un public qui chérit les valeurs individuelles, car, en réalité, la pauvre Madame de Rênal est bien digne de notre pitié aussi, elle qui se contentait de si peu preuve d’amour, et qui mourut de douleur d’amour, sans parler encore de ses trois enfants. Du point de vue de l’altruisme, elle est aussi souffrante qu’Emma.

Si, à partir de toutes ces analyses, je suis amenée à dire quelques mots sur le style de Flaubert et de Stendhal (un peu malgré moi), je dirai que celui de Flaubert est altruiste, et celui de Stendhal est individualiste, et ce propos sans aucune nuance péjorative. Car si l’altruisme nous donne un sentiment du bonheur intérieur, souvent indépendamment de la réalité douloureuse, alors l’individualité donne la force pour le développement personnel. L’homme qui opte pour l’altruisme est heureux mais faible (comme Louise et Charles), l’homme qui chérit son individualité progresse mais se voit malheureux (Emma et Julien). Enfin, celui qui poursuit les deux objectifs en même temps s’exposent perpétuellement à des contradictions, ce qui me fait penser encore à des personnages de N. H. Thiep.

jeudi 19 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (11)

Thưa Đức ông, ngài đã không nhân đạo mà cũng không hào hiệp đối với tôi ; và không những ngài đã có thể được như vậy mà không bỏ qua bất cứ điều gì mà ngài đã nói ra để chống lại cuốn sách của tôi, mà lại còn có tác động tốt hơn. Tôi cũng thú thực là tôi không có quyền đòi hỏi ở ngài những đức tính ấy, cũng không có lý do để mong chờ chúng ở một linh mục. Hãy xem ít nhất thì ngài có công bình và công bằng không ; bởi đó là một nghĩa vụ nghiêm ngặt được đặt ra với tất cả mọi người, và ngay cả những vị thánh cũng không được miễn trừ.
Ngài có hai đối tượng trong lệnh thư của ngài, điều thứ nhất là kiểm duyệt cuốn sách của tôi, điều kia là phỉ báng tôi. Tôi tin rằng tôi sẽ đáp trả ngài rất hay nếu tôi chứng minh rằng hễ chỗ nào ngài  đã bác bỏ tôi thì ngài lập luận dở, và hễ chỗ nào ngài thóa mạ tôi thì ngài vu khống tôi. Nhưng khi mà người ta bước tới chỉ với bằng chứng trong tay, nhưng người ta lại bị bắt buộc, do bởi tầm quan trọng của chủ đề và bởi tính chất của đối thủ, phải theo một trình tự nặng nhọc và theo từng bước một tất cả những sự kiểm duyệt, thì để nói được một từ sẽ cần nhiều trang viết ; ấy vậy mà trong khi một bài châm biếm ngắn khiến ta vui, thì một bài biện hộ dài khiến ta buồn chán. Tuy nhiên tôi phải tự biện hộ, hoặc là tôi sẽ gánh chịu những lời đổ tội sai trái nhất của ngài. Vậy thì tôi sẽ tự vệ, nhưng tôi sẽ bảo vệ danh dự của tôi chứ không phải là cuốn sách của tôi. Đây không phải là việc xem xét Đức tin của cha sở xứ Savoie, mà là Lệnh thư của Đức Tổng Giám mục Paris ; và chỉ vì điều xấu mà ngài nói về người biên soạn cuốn sách khiến cho tôi phải nói về cuốn sách. Tôi làm điều mà tôi phải làm, bởi vì tôi có nghĩa vụ phải làm điều ấy, chứ không phải không biết rằng đó là một vị thế đáng buồn khi ta phải than phiền về một người quyền lực hơn ta ; và rằng bài biện minh cho một kẻ vô tội thật là một bài đọc nhạt nhẽo.
------------------------------------------------
Monseigneur, vous n'avez été pour moi ni humain ni généreux ; et non seulement vous pouviez l'être sans m'épargner aucune des choses que vous avez dites contre mon ouvrage, mais elles n'en auraient fait que mieux leur effet. J'avoue aussi que je n'avais pas droit d'exiger de vous ces vertus, ni lieu de les attendre d'un homme d'Église. Voyons si vous avez été du moins équitable et juste ; car c'est un devoir étroit imposé à tous les hommes, et les saints mêmes n'en sont pas dispensés.
Vous avez deux objets dans votre mandement, l'un de censurer mon livre, l'autre de décrier ma personne. Je croirai vous avoir bien répondu si je prouve que partout où vous m'avez réfuté vous avez mal raisonné, et que partout où vous m'avez insulté vous m'avez calomnié. Mais quand on ne marche que la preuve à la main quand on est forcé, par l'importance du sujet et par la qualité de l'adversaire à prendre une marche pesante et à suivre pied à pied toutes ses censures, pour chaque mot il faut des pages ; et tandis qu'une courte satire amuse, une longue défense ennuie. Cependant il faut que je me défende, ou que je reste chargé par vous des plus fausses imputations. Je me défendrai donc, mais je défendrai mon honneur plutôt que mon livre. Ce n'est point la Profession de foi du vicaire savoyard que j'examine, c'est le Mandement de l'archevêque de Paris ; et ce n'est que le mal qu'il dit de l'éditeur qui me force à parler de l'ouvrage. Je me rendrai ce que je me dois, parce que je le dois, mais sans ignorer que c'est une position bien triste que d'avoir à se plaindre d'un homme plus puissant que soi, et que c'est une bien fade lecture que la justification d'un innocent.

mardi 17 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (10)

Từ lâu rồi người ta đã đem xã giao nhà nước thay thế cho công lý.  Tôi biết là có những hoàn cảnh không may đã buộc một con người của công chúng, dù trong lòng không muốn, phải áp bức một công dân tốt. Ai mà lại muốn tỏ ra chừng mực giữa những kẻ thịnh nộ đang lên cơn thịnh nộ ; và tôi hiểu là, trong một cơn cuồng giận như tôi đang là nạn nhân, cần phải gào hú lên cùng với bầy sói, hay là bị nghiến ngấu ; Vậy nên tôi không than phiền việc ngài đã ra một lệnh thư chống lại cuốn sách của tôi ; nhưng tôi than phiền vì ngài đã làm điều đó chống lại con người tôi, với ít tính lương thiện cũng như là sự thật đến thế ; Tôi than phiền vì, trong khi cho phép bằng chính ngôn từ của ngài cái ngôn từ mà ngài chê trách tôi là đã đặt nó vào miệng của nhà tiên tri, ngài lại trấn áp tôi với những lời lăng mạ, vốn không hại gì tới luận cứ của tôi, chúng tấn công danh dự của tôi hay đúng hơn là danh dự của chính ngài ; tôi phàn nàn vì rằng, vô tư lự, không lý do, chẳng cần thiết, không coi trọng ít nhất là những nỗi bất hạnh của tôi, ngài lại xúc phạm tôi với một giọng điệu ít xứng đáng với tính cách của ngài đến thế. Vậy thì tôi đã làm gì ngài ? tôi đã bao lần ngưỡng mộ sự kiên định của ngài trong khi than phiền, thực vậy, về việc sử dụng những định kiến đã khiến ngài tạo ra những định kiến ; tôi đã luôn vinh danh những luân lý của ngài, tôn trọng những phẩm chất của ngài, và ngày nay vẫn còn tôn trọng mặc dù ngài đã giằng xé tôi ?
Chính là bằng cách ấy mà người ta thoát nàn khi người ta tranh cãi và người ta vô lý. Không thể giải quyết những phản bác của tôi, ngài đã biến chúng thành những tội lỗi ; ngài đã tưởng sẽ làm tôi trở nên hèn hạ bằng cách bạc đãi tôi, và ngài đã nhầm ; không làm yếu đi được những lý lẽ của tôi, ngài đã kích động những tấm lòng hào hiệp để khiến tôi thất sủng ;  ngài đã khiến cho những người có lương tri tin rằng họ không thể đánh giá tốt về cuốn sách khi họ đánh giá xấu đến thế về tác giả.

------------------------------------------------------- 
Il y a longtemps qu'on a substitué des bienséances d'État à la justice. Je sais qu'il est des circonstances malheureuses qui forcent un homme public à sévir malgré lui contre un bon citoyen. Qui veut être modéré parmi des furieux s'expose à leur furie ; et je comprends que, dans un déchaînement pareil à celui dont je suis la victime, il faut hurler avec les loups, ou risquer d'être dévoré. Je ne me plains donc pas que vous ayez donné un mandement contre mon livre ; mais je me plains que vous l'ayez donné contre ma personne, avec aussi peu d'honnêteté que de vérité ; je me plains qu'autorisant par votre propre langage celui que vous me reprochez d'avoir mis dans la bouche de l'inspiré, vous m'accabliez d'injures qui, sans nuire à ma cause, attaquant mon honneur ou plutôt le vôtre ; je me plains que de gaieté de cœur, sans raison, sans nécessité, sans respect au moins pour mes malheurs, vous m'outragiez d'un ton si peu digne de votre caractère. Et que vous avais-je donc fait, moi qui parlai toujours de vous avec tant d'estime ; moi qui tant de fois admirai votre inébranlable fermeté en déplorant, il est vrai, l'usage que vos préjugés vous en faisaient faire ; moi qui toujours honorai vos mœurs, qui toujours respectai vos vertus, et qui les respecte encore aujourd'hui que vous m'avez déchiré ?
C'est ainsi qu'on se tire d'affaire quand on veut quereller et qu'on a tort. Ne pouvant résoudre mes objections, vous m'en avez fait des crimes : vous avez cru m'avilir en me maltraitant, et vous vous êtes trompé ; sans affaiblir mes raisons, vous avez intéressé les cœurs généreux à mes disgrâces ; vous avez fait croire aux gens sensés qu'on pouvait ne pas bien juger du livre quand on jugeait si mal de l'auteur.

dimanche 15 janvier 2012

Tranh luận về tiếng Pháp từ blog HY (tiếp theo)

Tôi lại phân tích tiếp câu sửa còn lại của chú Antoine

HY-LH : « j'ai entendu dire que le français en France et le français au Québec sont différents en quelque sorte, mais je ne sais pas comment. Savez-vous quelles sont les différences? »
= Tôi nghe nói là tiếng Pháp ở Pháp và tiếng Pháp ở Québec thì khác nhau, nhưng tôi không biết (chúng khác nhau) như thế nào. Bạn có biết sự khác biệt nào không ?

Antoine : « j’ai entendu dire qu’il existe certaines différences entre le français du Québec et celui de la France, mais je ne les connais pas. Les connaissez-vous ?

= Tôi nghe nói là có tồn tại một số /một vài sự khác biệt giữa tiếng Pháp của Québec và tiếng của Pháp, nhưng tôi không rành chúng. Bạn có rành chúng không ?
----------------------------------------------------------
Khi đọc lại câu của bác HY viết và tôi sửa, tôi vẫn còn cảm thấy thích thú vì câu cú và ý tưởng đều nhẹ nhàng, trau chuốt. Bây giờ xem chú Antoine biến nó thành cái gì nè :

Thay vì nói thẳng và giản dị là tiếng Pháp ở nơi nọ và nơi kia khác nhau, thì chú Antoine dùng một cấu trúc vô nhân xưng « il existe… » (nghĩa là "có tồn tại") rất là « vạn năng », tức là tầm thường, cũng giống như là « il y a » (có), hoặc là « c’est » (đây là) vậy.  Cấu trúc vô nhân xưng thường có tính khách quan, chung chung (neutre), dùng trong khoa học tự nhiên và y khoa thì ok, dùng trong văn thì dở, vì nó không có tình cảm.  (Đại khái như « anh yêu em » và « có tồn tại trong anh một tình yêu đối với em » vậy).

Chú Antoine dùng « celui » để tránh lặp lại « le français », thì cũng được, nhưng thực ra như vậy vẫn là lặp lại danh từ, dưới dạng đại từ chỉ định (pronom démonstratif) mà thôi.  Thường thì dùng đại từ như vậy khiến câu nặng nề. Danh từ mà lặp lại một lần thôi thì chưa có gì là dở cả, lặp lại nhiều lần thì mới thành vấn đề, vì chứng tỏ người viết có một vốn từ vựng hạn hẹp, không biết dùng các từ đồng nghĩa tương đương.

Tương tự hai chữ « les » của chú ấy trong hai mệnh đề cuối cùng đều là để dùng thay thế cho « les diffférences », như vậy chỉ trong hai câu thôi, mà đã có một từ « diffférences » được dùng tới ba lần, vụng không thể tả ! Nếu so với câu của bác HY và tôi, thì tôi dùng danh từ « diffférence » chỉ một lần, tính từ « diffférent » một lần, còn lần thứ hai là ẩn trong câu « je ne sais pas comment (ils sont différents) », nhưng tôi hoàn toàn có thể dùng một tính từ đồng nghĩa như là « dissemblant » chẳng hạn. Như vậy thì câu của chúng tôi trau chuốt hơn rất nhiều.

Kế tiếp là chú ấy thay động từ « savoir » bằng « connaître », không hiểu để làm gì. « Savoir » (nghĩa từ nguyên là « phân biệt ») nghĩa là biết đủ có thể phân biệt được, nhận ra được, « connaître » (nghĩa từ nguyên là « học để biết ») nghĩa là biết rành, biết sâu, có kiến thức về điều đó. Vậy mà sự khác nhau giữa tiếng Pháp được sử dụng ở Pháp và ở Québec là rất nhiều (chứ không phải chỉ có « một vài » cái như chú Antoine hiếu sai), và phải là chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ mới « biết rành » để chỉ ra được. Tôi cho rằng đây không phải là ý bác HY, bác ấy chỉ muốn hỏi xem chú ấy có biết chút gì hay không thôi.

Cuối cùng là chú ấy khá bất lịch sự vì đã sửa câu hỏi của bác HY mà không thèm trả lời (ít nhất thì cũng nói là « tiếc quá, tôi không biết » chứ), lịch sự kiểu Pháp (sinh viên trường Y có văn hóa) để đâu rồi ?

Ở blog bác HY tôi vì nể chủ nhà mà nhịn chú ấy như nhịn cơm sống, nhưng ở đây thì đừng hòng nhé !

Tôi sẽ còn viết thêm một billet (entry) nữa để tổng kết vụ này !

vendredi 13 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (9)

Liệu người ta có nghĩ rằng, nếu mà cuốn sách của tôi đã không bị truy tố ở nghị viện, thì ông có tấn công tôi ít hơn không ? Những người khác có thể tin như vậy hoặc nói như vậy ; nhưng còn ngài, mà lương tâm không thể chịu đựng được sự dối trá, ngài sẽ không nói như vậy. Cuốn « Luận về sự bất bình đẳng » của tôi đã truyền khắp giáo phận của ngài, mà ngài đã chẳng ban lệnh thư. « Thư gửi ngài d’Alembert » của tôi đã truyền khắp giáo phận của ngài, mà ngài đã chẳng ban lệnh thư. « Nàng Héloïse mới » đã truyền khắp giáo phận của ngài, mà ngài đã chẳng ban lệnh thư. Tuy thế tất cả những cuốn sách này, mà ngài đã đọc, bởi vì ngài đã phán xét chúng, đều hít thở cùng những châm ngôn ; ngay cả những cách suy nghĩ cũng không bị che giấu ; nếu chủ đề đã khiến chúng không có cùng một cách khai triển, chúng giành được về sức mạnh cái mà chúng mất đi về quy mô, và người ta sẽ thấy ở đó đức tin mà tác giả đã thổ lộ một cách ít dè dặt hơn là đức tin của cha xứ vùng Savoyard. Vậy tại sao mà khi đó ngài đã không nói gì ? Thưa Đức ông, bầy chiên của ông đã ít thân thương đối với ngài chăng ? Họ đã đọc tôi ít hơn chăng ? Họ đã ít thích sách của tôi hơn ? Họ đã ít tiếp xúc với sai lầm hơn ? Không phải ; nhưng khi đó chẳng hề có tu sĩ dòng Tên phải xua đuổi, những kẻ phản trắc còn chưa cuốn tôi vào cạm bẫy của chúng ; Ghi chú định mệnh kia còn chưa được biết tới, và khi nó được biết tới thì công chúng đã bầu phiếu cho cuốn sách của tôi rồi. Khi đó đã quá muộn để gây điều tiếng, người ta đã muốn trì hoãn, người ta chờ cơ hội, người ta rình nó, nắm bắt nó, người ta tận dụng nó với sự thịnh nộ thông thường của các tín đồ ; người ta chỉ nói tới những xiềng xích và giàn hỏa thiêu ; cuốn sách của tôi đã là hồi chuông báo động của tình trạng vô chính phủ và tiếng kèn của chủ nghĩa vô thần ; tác giả đã là một con quái vật cần bóp nghẹt ; người ta kinh ngạc là đã để hắn sống lâu đến thế. Trong cơn điên giận rộng khắp này, hẳn là ngài đã xấu hổ vì đã giữ im lặng : ngài đã thà làm một hành động tàn ác còn hơn là bị tố là thiếu lòng nhiệt thành, thà phục vụ kẻ thù của mình hơn là bị chúng chê trách. Vậy đó, thưa Đức ông, ngài hãy thừa nhận lý do thực sự của lệnh thư của ngài ; Đó có vẻ là sự hội tụ của những sự kiện khá đặc biệt khiến cho số phận của tôi đáng được gọi là kỳ lạ.

--------------------------------------------------------------------------
Croira-t-on que, quand mon livre n'eût point été déféré au parlement, vous ne l'eussiez pas moins attaqué ? D'autres pourront le croire ou le dire ; mais vous, dont la conscience ne sait point souffrir le mensonge, vous ne le direz pas. Mon Discours sur l'inégalité a couru votre diocèse, et vous n'avez point donné de mandement. Ma Lettre à M. d'Alembert a couru votre diocèse, et vous n'avez point donné de mandement. La Nouvelle Héloïse a couru votre diocèse, et vous n'avez point donné de mandement. Cependant tous ces livres, que vous avez lus, puisque vous les jugez, respirent les mêmes maximes ; les mêmes manières de penser n'y sont pas plus déguisées : si le sujet ne les a pas rendues susceptibles du même développement, elles gagnent en force ce qu'elles perdent en étendue, et l'on y voit la profession de foi de l'auteur exprimée avec moins de réserve que celle du Vicaire savoyard. Pourquoi donc n'avez-vous rien dit alors ? Monseigneur, votre troupeau vous était-il moins cher ? me lisait-il moins ? goûtait-il moins mes livres ? était-il moins exposé à l'erreur ? Non ; mais il n'y avait point alors de jésuites à proscrire ; des traîtres ne m'avaient point encore enlacé dans leurs pièges ; la note fatale n'était point connue et, quand elle le fut, le public avait déjà donné son suffrage au livre. Il était trop tard pour faire du bruit ; on aima mieux différer, on attendit l'occasion, on l'épia, on la saisit, on s'en prévalut avec la fureur ordinaire aux dévots ; on ne parlait que de chaînes et de bûchers ; mon livre était le tocsin de l'anarchie et la trompette de l'athéisme ; l'auteur était un monstre à étouffer ; on s'étonnait qu'on l'eût si longtemps laissé vivre. Dans cette rage universelle, vous eûtes honte de garder le silence : vous aimâtes mieux faire un acte de cruauté que d'être accusé de manquer de zèle, et servir vos ennemis que d'essuyer leurs reproches. Voilà, monseigneur, convenez-en, le vrai motif de votre mandement ; voilà ce me semble, un concours de faits assez singuliers pour donner à mon sort le nom de bizarre.

jeudi 12 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (8)

Tất cả những điều đó, thưa Đức ông, tạo nên một sự hội tụ mà tôi là ví dụ duy nhất : và đó còn chưa phải là tất cả… Đây có lẽ là một trong những tình huống khó khăn nhất trong đời tôi, một trong những tình huống mà sự trả thù và lòng tự ái dễ dàng được thỏa mãn nhất, và ít cho phép một con người công bình được tự kiềm chế nhất. Chỉ cần mươi dòng thôi và tôi sẽ trùm lên những kẻ ngược đãi tôi một sự lố bịch không bôi xóa được. Chỉ cần công chúng biết được hai giai thoại mà tôi không cần phải kể ra ! Chỉ cần họ biết được những kẻ đã nghiền ngẫm sự suy sụp của tôi, và điều mà chúng đã làm để thực hiện điều ấy ! Công chúng sẽ thấy vì những thứ côn trùng đáng khinh bỉ nào, mà các quyền lực đã bị khuấy động ! Họ sẽ thấy thứ men chua nào đã được ủ ấm bởi sự thối tha của chúng và khiến cho cả nghị viện lên men ! Vì cái lý do kệch cỡm nào mà công chúng thấy các Nhà nước châu Âu liên minh với nhau chống lại con trai của một người thợ sửa đồng hồ ! Tôi sẽ vui thích biết bao mà thưởng thức sự bất ngờ của họ, nếu tôi không phải là công cụ gây ra sự bất ngờ này !
Cho tới lúc này ngòi bút của tôi, vốn táo bạo để nói lên sự thật, nhưng thuần túy là không châm biếm, đã chưa bao giờ làm hại ai cả ; nó đã luôn tôn trọng danh dự của người khác, ngay cả trong khi tự bảo vệ danh dự của chính tôi. Liệu tôi, khi rời bỏ nó, có sẽ làm nhơ bẩn nó bằng những lời nói xấu, và nhuộm nó với màu nhọ đen của những kẻ thù của tôi ? Không ; hãy để cho chúng lợi thế được đánh lén trong bóng tối. Về phần tôi, tôi chỉ muốn tự vệ một cách công khai, hay thậm chí là tôi chỉ muốn tự vệ. Để được như vậy chỉ cần điều mà công chúng đã biết, hay có thể được công chúng biết, mà không cần bất cứ ai bị xúc phạm.
Một điều đáng kinh ngạc thuộc loại này, mà tôi có thể nói ra, là khi thấy ngài Christophe de Beaumont gan dạ, người chưa từng chịu uốn gối trước bất kỳ thế lực nào cũng như không chấp nhận bất kỳ hòa bình nào với những người theo phái Jansen, đã trở thành, mà không hay biết, vệ tinh của họ và là công cụ cho sự thù hận của họ ; là khi thấy kẻ thù không đội trời chung của họ trừng trị tôi vì tôi đã không chịu theo phe của họ, vì tôi đã không muốn cầm bút chống lại các tu sĩ dòng Tên, mà tôi vốn không thích, nhưng tôi cũng không có gì phải than phiền về họ, cũng như thấy rằng họ bị áp bức. Xin Đức ông hãy đoái nhìn đến tập thứ sáu của truyện « Nàng Héloïse mới », ấn bản đầu tiên ; ngài sẽ thấy, ở ghi chú trang 138, nguồn gốc thật sự của tất cả những nỗi bất hạnh của tôi. Tôi đã dự báo trong ghi chú này (vì đôi khi tôi cũng can dự vào việc dự đoán) rằng là ngay khi mà các tu sĩ dòng Jansen trở thành thống lãnh họ sẽ còn kém khoan dung hơn và hà khắc hơn cả kẻ thù của họ. Khi đó tôi không biết rằng là câu chuyện của chính tôi sẽ kiểm chứng tốt đến thế cho lời dự đoán của mình. Sợi chỉ mối của kịch bản này sẽ không khó kiểm chứng đối với những ai biết được là cuốn sách của tôi đã bị thu hồi như thế nào. Tôi không thể nói thêm mà không nói quá nhiều, nhưng tôi có thể ít nhất báo cho ông biết là bởi những kẻ như thế nào mà ông đã bị dẫn dắt mà không ngờ tới. 

-------------------------------------------------- 

Tout cela, monseigneur, forme un concours dont je suis le seul exemple : et ce n'est pas tout... Voici peut-être une des situations les plus difficiles de ma vie, une de celles où la vengeance et l'amour-propre sont le plus aisés à satisfaire, et permettent le moins à l'homme juste d'être modéré. Dix lignes seulement et je couvre mes persécuteurs d'un ridicule ineffaçable. Que le public ne peut-il savoir deux anecdotes sans que je les dise 20 ! Que ne connaît-il ceux qui ont médité ma ruine, et ce qu'ils ont fait pour l'exécuter ! Par quels méprisables insectes, par quels ténébreux moyens il verrait s'émouvoir les puissances ! Quels levains il verrait s'échauffer par leur pourriture et mettre le parlement en fermentation ! Par quelle risible cause il verrait les États de l'Europe se liguer contre le fils d'un horloger ! Que je jouirais avec plaisir de sa surprise, si je pouvais n'en être pas l'instrument !
Jusqu'ici ma plume, hardie à dire la vérité, mais pure de toute satire, n'a jamais compromis personne ; elle a toujours respecté l'honneur des autres, même en défendant le mien. Irais-je, en la quittant, la souiller de médisance, et la teindre des noirceurs de mes ennemis ? Non ; laissons-leur l'avantage de porter leurs coups dans les ténèbres. Pour moi, je ne veux me défendre qu'ouvertement, et même je ne veux que me défendre. II suffit pour cela de ce qui est su du public, ou de ce qui peut l'être sans que personne en soit offensé. 
Une chose étonnante de cette espèce, et que je puis dire, est de voir l'intrépide Christophe de Beaumont, qui ne sait plier sous aucune puissance ni faire aucune paix avec les jansénistes, devenir, sans le savoir, leur satellite et l'instrument de leur animosité ; de voir leur ennemi le plus irréconciliable sévir contre moi pour avoir refusé d'embrasser leur parti, pour n'avoir point voulu prendre la plume contre les jésuites, que je n'aime pas, mais dont je n'ai point à me plaindre et que je vois opprimés. Daignez monseigneur, jeter les yeux sur le sixième tome de la Nouvelle Héloïse, première édition ; vous trouverez, dans la note de la page 138, la véritable source de tous mes malheurs. J'ai prédit dans cette note (car je me mêle aussi quelquefois de prédire) qu'aussitôt que les jansénistes seraient les maîtres ils seraient plus intolérants et plus durs que leurs ennemis. Je ne savais pas alors que ma propre histoire vérifierait si bien ma prédiction. Le fil de cette trame ne serait pas difficile à suivre à qui saurait comment mon livre a été déféré. Je n'en puis dire davantage sans en trop dire, mais je pouvais au moins vous apprendre par quelles gens vous avez été conduit sans vous en douter.

mardi 10 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (7)

Tôi sẽ tránh nói tới những người cùng thời với tôi ; tôi không muốn làm hại ai cả. Nhưng nhà vô thần Spinoza đã được yên bình giảng giải luận thuyết của ông ; ông ấy cho in sách của mình mà không bị trở ngại nào, người ta đọc chúng công khai : ông đến sống ở Pháp và được tiếp đón rất tốt ; tất cả các nhà nước đã mở cửa với ông, ông tìm được sự bảo trợ ở khắp nơi, hoặc chí ít là sự an toàn ; các ông hoàng trọng thị ông, tặng cho ông những chức giảng : ông đã sống và chết bình yên, thậm chí được coi trọng. Ngày nay, trong cái thế kỷ được tôn vinh bởi triết học, lý trí, nhân văn, chỉ vì đã phát biểu với sự thận trọng, thậm chí là với sự kính trọng và tình yêu đối với loài người, một vài sự nghi ngờ được thiết lập dựa trên chính vinh quang của Đấng tối cao, mà người bênh vực chính nghĩa của Thiên Chúa, mang tai tiếng, bị hắt hủi, bị săn đuổi từ nước này sang nước khác, từ nơi tị nạn này đến nơi tị nạn khác, không xét tới sự bần cùng của người đó, không xót thương đối với những khuyết tật của ông, với một sự dai dẳng mà chưa một kẻ bất lương nào phải chịu qua, và sẽ là dã man ngay cả đối với một người khỏe mạnh, bị tước đoạt lửa và nước trong gần như toàn châu Âu ; người ta xua đuổi ông cả ở giữa rừng : phải có được sự kiên quyết của một người bảo hộ danh tiếng và tất cả lòng tốt của một vị hoàng thân sáng suốt thì ông mới được để cho yên giữa núi non. Ông ta lẽ ra đã phải sống những ngày cuối đời khốn khổ trong gông cùm, ông ta lẽ ra đã chết trong nhục hình nếu như trong cơn choáng đầu tiên của các chính phủ, ông ta lại tùy thuộc vào lòng thương xót của những kẻ đã ngược đãi mình.
Thoát khỏi tay đao phủ, ông lại rơi vào tay thầy tu. Đó không phải là điều mà tôi cho là đáng kinh ngạc, nhưng đây lại là một con người đức hạnh mà tâm hồn cũng cao quý như là dòng dõi, một đức Tổng Giám mục danh tiếng, người lẽ ra phải trấn áp sự hèn hạ của những kẻ đó, lại cho phép điều này : ông ấy không xấu hổ, người lẽ ra phải thương xót những kẻ bị áp bức, lại đi kết tội một người như vậy trong lúc bất hạnh khốn cùng nhất. Ông ấy, một giáo chức Công giáo, tung ra một bức lệnh thư chống lại một tác giả Tin lành ; ông lên bục tòa án để phán xét như một vị thẩm phán về học thuyết đặc biệt của một kẻ dị giáo : và mặc dù là ông kết án một cách không phân biệt bất kỳ kẻ nào không thuộc về Giáo hội của ông, không cho phép kẻ bị tố cáo được lang thang theo cách của hắn, có thể nói như vậy ông đã vẽ ra cho kẻ đó con đường để anh ta đi thẳng xuống địa ngục. Ngay lập tức phần còn lại của các giáo sĩ của ông hăm hở, miệt mài, bám riết quanh một kẻ thù mà họ tin là đã bị hạ gục. Lớn và nhỏ, tất cả đều xúm vào : tên giữ đồ thờ tầm thường nhất cũng ra bộ giỏi giang ; không một tên ngốc mặc áo chùng nào, không một kẻ ốm o quen mặt nào trong xứ đạo, được thả sức chế nhạo kẻ mà cả Thượng nghị viện lẫn Đức giám mục của chúng hợp sức chống, lại không muốn có được vinh dự cho hắn một cú đá cuối cùng. 

----------------------------------------------
J'éviterai de parler de mes contemporains ; je ne veux nuire à personne. Mais l'athée Spinoza enseignait paisiblement sa doctrine, il faisait sans obstacle imprimer ses livres, on les débitait publiquement : il vint en France, et il y fut bien reçu ; tous les États lui étaient ouverts, partout il trouvait protection, ou du moins sûreté ; les princes lui rendaient des honneurs, lui offraient des chaires : il vécut et mourut tranquille, et même considéré. Aujourd'hui, dans le siècle tant célébré de la philosophie, de la raison, de l'humanité, pour avoir proposé avec circonspection, même avec respect et pour l'amour du genre humain, quelques doutes fondés sur la gloire même de l'Être suprême, le défenseur de la cause de Dieu, flétri, proscrit, poursuivi d'État en État, d'asile en asile, sans égard pour son indigence, sans pitié pour ses infirmités, avec un acharnement que n'éprouva jamais aucun malfaiteur et qui serait barbare même contre un homme en santé, se voit interdire le feu et l'eau dans l'Europe presque entière ; on le chasse du milieu des bois : il faut toute la fermeté d'un protecteur illustre et toute la bonté d'un prince éclairé pour le laisser en paix au sein des montagnes. Il eût passé le reste de ses malheureux jours dans les fers, il eût péri peut-être dans les supplices si durant le premier vertige qui gagnait les gouvernements, il se fût trouvé à la merci de ceux qui l'ont persécuté.
Échappé aux bourreaux, il tombe dans les mains des prêtres. Ce n'est pas là ce que je donne pour étonnant, mais un homme vertueux qui a l'âme aussi noble que la naissance, un illustre archevêque qui devrait réprimer leur lâcheté, l'autorise : il n'a pas honte, lui qui devrait plaindre les opprimés, d'en accabler un dans le fort de ses disgrâces ; il lance, lui prélat catholique, un mandement contre un auteur protestant ; il monte sur son tribunal pour examiner comme juge la doctrine particulière d'un hérétique : et, quoiqu'il damne indistinctement quiconque n'est pas de son Église, sans permettre à l'accusé d'errer à sa mode, il lui prescrit en quelque sorte la route par laquelle il doit aller en enfer. Aussitôt le reste de son clergé s'empresse, s'évertue, s'acharne autour d'un ennemi qu'il croit terrassé. Petits et grands, tout s'en mêle : le dernier cuistre vient trancher du capable ; il n'y a pas un sot en petit collet, pas un chétif habitué de paroisse qui, bravant à plaisir celui contre qui sont réunis leur sénat et leur évêque, ne veuille avoir la gloire de lui porter le dernier coup de pied.