lundi 30 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (14)


Đó là, thưa Đức ông, trạng thái thứ ba và cuối cùng mà vượt ra khỏi nó chẳng còn gì để làm cả. Và đó là như thế nào mà con người tốt đẹp lại trở thành độc ác ;  Chính là để tìm hiểu xem nên dùng biện pháp nào để ngăn họ trở nên như vậy mà tôi đã dành cuốn sách của mình. Tôi đã không khẳng định rằng trong trật tự hiện tại điều đó hoàn toàn có thể, nhưng tôi đã khẳng định rõ và vẫn còn khẳng định rằng không có phương cách nào khác hơn, để đạt đến mục đích, ngoài những phương cách mà tôi đã đề nghị.
Về vấn đề đó ngài đã nói rằng phương án giáo dục của tôi, « còn xa mới phù hợp với Thiên chúa giáo, thậm chí không thích hợp để tạo ra những công dân hay cả những con người » : và chứng cớ duy nhất của ngài chống lại tôi là đưa ra tội tổ tông. Thưa Đức ông, có cách khác để giải thoát khỏi tội tổ tông, đó là lễ rửa tội. Từ đó suy ra rằng, theo ngài, không bao giờ có công dân cũng như con người nào khác ngoài người thiên chúa giáo. Hoặc là ngài hãy chối bỏ hậu quả này, hoặc ngài hãy chấp nhận rằng ngài đã chứng minh quá đáng.
Ngài đã lôi ra những bằng chứng của mình từ rất cao, đến nỗi mà ngài buộc tôi cũng phải đi tìm những câu trả lời của mình rất xa. Đầu tiên, chắc hẳn là, theo tôi, cái học thuyết về tội tổ tông, mà nó đang phải chịu những khó khăn khủng khiếp đến thế, đã không được nêu trong Kinh Thánh một cách rõ ràng và cứng rắn như là nhà hùng biện Augustin và các nhà thần học của chúng ta đã xây đắp nên. Và còn cái cách quan niệm rằng Thiên chúa tạo ra bấy nhiêu tâm hồn vô tội và trong trắng, để cố tình gắn chúng vào những thân thể tội lỗi, để khiến cho chúng tiêm nhiễm ở đó sự suy thoái tâm hồn, và để kết án tất cả chúng vào nơi địa ngục, không vì tội lỗi nào hơn là cái sự kết hợp này, vốn là tác phẩm của Người ? Tôi sẽ không nói là ngài có thể (như ngài đã tự khoe) làm sáng tỏ bằng hệ thống này những bí ẩn của trái tim chúng ta ; nhưng tôi thấy là ngài đã làm tối tăm đi rất nhiều sự công bằng và lòng tốt của Đấng tối cao. Nếu ngài giải quyết được một phản đối, đó là để thay thế nó bằng những phản đối còn trăm lần mạnh hơn thế.
------------------------------------------------------------
Voilà, monseigneur, le troisième et dernier terme au delà duquel rien ne reste à faire ; et voilà comment, l'homme étant bon, les hommes deviennent méchants. C'est à chercher comment il faudrait s'y prendre pour les empêcher de devenir tels, que j'ai consacré mon livre. Je n'ai pas affirmé que dans l'ordre actuel la chose fût absolument possible ; mais j'ai bien affirmé et j'affirme encore qu'il n'y a, pour en venir à bout, d'autres moyens que ceux que j'ai proposés.
Là-dessus vous dites que mon plan d'éducation 21, loin de s'accorder avec le christianisme, n'est pas même propre à faire des citoyens ni des hommes : et votre unique preuve est de m'opposer le péché originel. Monseigneur, il n'y a d'autre moyen de se délivrer du péché originel et de ses effets, que le baptême. D'où il suivrait, selon vous, qu'il n'y aurait jamais eu de citoyens ni d'hommes que des chrétiens. Ou niez cette conséquence, ou convenez que vous avez trop prouvé.
Vous tirez vos preuves de si haut, que vous me forcez d'aller aussi chercher loin mes réponses. D'abord il s'en faut bien, selon moi, que cette doctrine du péché originel, sujette à des difficultés si terribles, ne soit contenue dans l'Écriture ni si clairement ni si durement qu'il a plu au rhéteur Augustin et à nos théologiens de la bâtir. Et le moyen de concevoir que Dieu crée tant d'âmes innocentes et pures, tout exprès pour les joindre à des corps coupables, pour leur y faire contracter la corruption morale, et pour les condamner toutes à l'enfer, sans autre crime que cette union qui est son ouvrage ? Je ne dirai pas si (comme vous vous en vantez) vous éclaircissez par ce système le mystère de notre cœur ; mais je vois que vous obscurcissez beaucoup la justice et la bonté de l'Être suprême. Si vous levez une objection, c'est pour en substituer de cent fois plus fortes.

vendredi 27 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (13)


Khi mà, bởi sự phát triển mà tôi đã chỉ ra tiến trình, con người bắt đầu đưa mắt nhìn tới đồng loại, họ cũng bắt đầu thấy được mối quan hệ của họ và mối quan hệ của sự vật, và có ý niệm về sự phù hợp, công bằng và trật tự ; đạo đức đẹp đẽ bắt đầu được họ cảm thấy, và ý thức tác động : khi đó họ có đức hạnh ; và nếu họ cũng có những tật xấu nữa, thì đó là do bởi lợi ích của họ chồng chéo nhau, và tham vọng của họ thức dậy cùng là ánh sáng của họ trải rộng ra. Nhưng chừng nào mà còn có ít xung đột lợi ích hơn là tụ hội của ánh sáng, thì con người về cơ bản là tốt. Đó là trạng thái thứ hai.
Cuối cùng khi mà tất cả lợi ích cá nhân khuấy động va đập vào nhau, khi tình yêu bản thân được ủ lên men biến thành lòng tự ái, khi mà ý kiến, mà nó làm cho toàn vũ trụ trở thành cần thiết với mỗi con người, khiến tất cả họ sinh ra đã trở thành kẻ thù của nhau, và làm cho ai cũng chỉ thấy được lợi ích của mình trong sự đau khổ của kẻ khác, khi đó ý thức, yếu hơn là những đam mê bùng lên, bị chúng bóp nghẹt, và chỉ còn là trên miệng của con người một từ ngữ được dùng để lừa bịp lẫn nhau. Người nào cũng giả vờ muốn hy sinh lợi ích của mình cho công chúng, và tất cả đều dối trá. Ai cũng chỉ muốn lợi ích chung khi mà nó phù hợp với lợi ích của cá nhân : bởi thế sự phù hợp này là đối tượng của nền chính trị thực sự muốn làm cho dân chúng hạnh phúc và tốt hơn. Nhưng đến đây thì tôi bắt đầu nói một thứ ngôn ngữ lạ, ít được biết bởi độc giả cũng như bởi chính ngài.
-----------------------------------------------------------------
Quand, par un développement dont j'ai montré le progrès, les hommes commencent à jeter les yeux sur leurs semblables, ils commencent aussi à voir leurs rapports et les rapports des choses, à prendre des idées de convenance, de justice et d'ordre ; le beau moral commence à leur devenir sensible, et la conscience agit : alors ils ont des vertus ; et s'ils ont aussi des vices, c'est parce que leurs intérêts se croisent, et que leur ambition s'éveille à mesure que leurs lumières s'étendent. Mais tant qu'il y a moins d'opposition d'intérêts que de concours de lumières, les hommes sont essentiellement bons. Voilà le second état.
Quand enfin tous les intérêts particuliers agités s'entre-choquent, quand l'amour de soi mis en fermentation devient amour-propre, que l'opinion, rendant l'univers entier nécessaire à chaque homme, les rend tous ennemis nés les uns des autres, et fait que nul ne trouve son bien que dans le mal d'autrui, alors la conscience, plus faible que les passions exaltées, est étouffée par elles, et ne reste plus dans la bouche des hommes qu'un mot fait pour se tromper mutuellement. Chacun feint alors de vouloir sacrifier ses intérêts à ceux du public, et tous mentent. Nul ne veut le bien public que quand il s'accorde avec le sien : aussi cet accord est-il l'objet du vrai politique qui cherche à rendre les peuples heureux et bons. Mais c'est ici que je commence à parler une langue étrangère, aussi peu connue des lecteurs que de vous.

jeudi 26 janvier 2012

« Trí thức » vs « trí thức ánh sáng »


Đầu xuân thấy trên diễn đàn tranh cãi loạn xạ về « trí thức », tôi cũng muốn góp phần, bèn lôi tự điển tiếng Pháp (và cả tiếng Anh) ra tra.

Nhưng tôi nhận thấy là mọi người bàn về những khái niệm khác nhau. Định nghĩa của bác Châu về trí thức là định nghĩa chính xác trong tự điển, tức là người lao động trí óc. Theo bác Châu, người trí thức và tất cả mọi người nói chung nên « nói những gì mình nghĩ » (Phú-lang-sa tôi cho đó là phản biện ở dạng khiêm tốn và ngay thẳng nhất của nó).

Còn định nghĩa của các bác Quechoa, nhà văn NQV, nhà nghiên cứu N.V.Tuan, người Na Uy Nguyễn Quang Minh, thì không tương ứng với định nghĩa « trí thức » của tự điển, nên tôi tạm dùng một khái niệm khác để biểu hiện, đó là « nhân sĩ ». Như vậy nhân sĩ là người tham gia phản biện xã hội (có thể bao gồm trí thức, nông dân, vv.)

Bác N. V. Tuấn lại nói thêm là trí thức ( kiểu « nhân sĩ ») phải « nói sự thật cho kẻ có quyền thế ». Thế lỡ nói sai thì không được coi là trí thức nữa ạ ? Suy ra thì trí thức thì đều nói giống nhau, vì sự thật chỉ có một mà thôi, phải không ạ ? Thế thì đâu cần phản biện nữa ạ ? Hay là có nhiều sự thật khác nhau ?

Khái niệm của bác Huệ Chi lại hơi khác hơn một tí, vì bác ấy cho rằng trí thức là người « có lương tri và ánh sáng của lương tri », nên phải « làm việc hướng dẫn cộng đồng », tức là phản biện. Vậy liệu những người nông dân có thể « phản biện » để « hướng dẫn cộng đồng » được không ? Nếu có, tức là anh Châu đúng (vì anh ấy cho là phản biện là vai trò của mọi người trong xã hội). Nhưng câu trả lời của bác Huệ Chi là « không », vì bác ấy nói : « … tôi nghĩ phản biện xã hội là chức năng của trí thức, chứ không phải là chức năng của ai hết." Như vậy tức là định nghĩa « trí thức » của bác Huệ Chi khác với định nghĩa về trí thức « nhân sĩ ». Trong trường hợp này, tôi tạm dùng khái niệm « trí thức ánh sáng » để biểu hiện định nghĩa của bác Huệ Chi, còn  khái niệm « phản biện » của bác ấy thì tôi thấy nó gần với nghĩa « cố vấn » hơn.

Tôi thấy vụ này hơi giống vụ tranh cãi về từ « vô tri », tức là chúng ta bắt một từ « trí thức » phải cõng nhiều nghĩa quá, nên nó còng cả lưng.

Thôi tôi đi « lao động trí óc » đây, để xứng đáng là một trí thức đúng nghĩa trong tự điển, rồi sau đó tôi sẽ phấn đấu thành « nhân sĩ », và cuối cùng là « trí thức ánh sáng ».

Nhưng tôi nói thật, ở Việt Nam mình muốn làm trí thức trơn thôi là đã khó lắm rồi, các bác cứ thử đơn giản là « nói điều mình nghĩ » mà xem, các bác lãnh đạo còn chưa nói tới, chứ dân thường là đã lồng lộn lên rồi. Các bác lại muốn cứ mở mồm ra là nói sự thật, chắc phải sang Úc mà học bác Tuấn.

Tôi cũng luôn cố gắng « nói điều mình nghĩ », tuy luôn bị chửi te tua, nhưng tôi không sợ ! Bác Châu có giải Phinxờ giải đồ còn bị văn nhân mặc khách lăng mạ tối tăm mặt mũi, thì tôi đây nào có sá chi !

lundi 23 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (12)


Nguyên tắc căn bản của mọi luân lý, mà dựa trên đó tôi đã lập luận trong mọi bài viết của mình, và tôi đã khai triển trong bài viết cuối cùng với tất cả sự trong sáng mà tôi có thể, đó là con người là một sinh vật một cách tự nhiên có bản chất tốt, yêu công bằng và trật tự ; không hề có sự hư hỏng cội nguồn trong trái tim con người, và những động thái đầu tiên của tự nhiên là luôn luôn ngay thẳng. Tôi đã cho thấy rằng niềm đam mê duy nhất đã được sinh ra cùng với con người, cụ thể là tình yêu bản thân, là một niềm đam mê tự nó hoàn toàn thờ ơ với khái niệm thiện ác ; rằng đam mê ấy trở nên tốt hay xấu chỉ bởi rủi ro, và tùy theo hoàn cảnh nơi nó phát triển. Tôi đã chỉ ra rằng tất cả những thói xấu mà người ta quy cho trái tim con người đều không phải là tự nhiên : tôi đã nói cách chúng được sinh ra như thế nào ; như vậy có thể nói rằng tôi đã đi theo phả hệ của chúng ; và tôi đã cho thấy làm thế nào mà bởi sự suy thoái liên tiếp của mình, cuối cùng con người đã trở nên như hiện tại.
Tôi cũng lại đã giải thích điều mà tôi gọi là lòng tốt tự nhiên, mà nó dường như không được suy ra từ sự thờ ơ đối với cái thiện và cái ác, vốn là tự nhiên đối với tình yêu bản thân. Con người không phải là một sinh vật đơn giản ; nó được cấu tạo từ hai tố chất. Nếu tất cả mọi người không đồng ý như vậy, thì ngài và tôi sẽ thỏa thuận như vậy, và tôi đã cố gắng chứng minh điều đó với những người khác. Điều đó đã được chứng tỏ rồi, thì tình yêu bản thân không phải là một niềm say mê đơn giản mà nó có hai nguyên lý, cụ thể là sinh vật thông minh và sinh vật nhạy cảm, mà sự mãn nguyện của mỗi bên là không giống nhau. Sự thèm muốn của các giác quan hướng tới sự thèm muốn của thể xác, còn lòng yêu trật tự hướng tới tình yêu của tâm hồn. Tình yêu này, được phát triển và làm cho năng động, được gọi tên là ý thức ; nhưng ý thức chỉ phát triển và tác động với ánh sáng của con người. Chính bởi ánh sáng này mà con người nhận ra được trật tự, và chỉ khi con người biết được trật tự thì ý thức của nó mới khiến nó yêu trật tự. Vậy ý thức là vô hiệu khi con người không so sánh gì cả và không thấy được những mối quan hệ của nó. Trong tình trạng đó, con người chỉ biết có chính mình ; nó không ghét cũng không yêu gì cả ; bị giới hạn chỉ trong bản năng thể chất, nó là số không, nó ngu ngốc. Đó là điều tôi đã chỉ ra trong Bài luận về sự bất bình đẳng.

--------------------------------------------------------------
Le principe fondamental de toute morale, sur lequel j'ai raisonné dans tous mes écrits et que j'ai développé dans ce dernier avec toute la clarté dont j'étais capable, est que l'homme est un être naturellement bon, aimant la justice et l'ordre ; qu'il n'y a point de perversité originelle dans le cœur humain, et que les premiers mouvements de la nature sont toujours droits. J'ai fait voir que l'unique passion qui naisse avec l'homme, savoir l'amour de soi, est une passion indifférente en elle-même au bien et au mal ; qu'elle ne devient bonne ou mauvaise que par accident, et selon les circonstances dans lesquelles elle se développe. J'ai montré que tous les vices qu'on impute au cœur humain ne lui sont point naturels : j'ai dit la manière dont ils naissent ; j'en ai pour ainsi dire suivi la généalogie ; et j'ai fait voir comment, par l'altération successive de leur bonté originelle, les hommes deviennent enfin ce qu'ils sont.
J'ai encore expliqué ce que j'entendais par cette bonté originelle, qui ne semble pas se déduire de l'indifférence au bien et au mal, naturelle à l'amour de soi. L'homme n'est pas un être simple ; il est composé de deux substances. Si tout le monde ne convient pas de cela, nous en convenons vous et moi, et j'ai tâché de le prouver aux autres. Cela prouvé, l'amour de soi n'est plus une passion simple mais elle a deux principes, savoir, l'être intelligent et l'être sensitif dont le bien-être n'est pas le même. L'appétit des sens tend à celui du corps, et l'amour de l'ordre à celui de l'âme. Ce dernier amour, développé et rendu actif, porte le nom de conscience ; mais la conscience ne se développe et n'agit qu'avec les lumières de l'homme. Ce n'est que par ces lumières qu'il parvient à connaître l'ordre, et ce n'est que quand il le connaît que sa conscience le porte à l'aimer. La conscience est donc nulle dans l'homme qui n'a rien comparé et qui n'a point vu ses rapports. Dans cet état, l'homme ne connaît que lui ; il ne voit son bien-être opposé ni conforme à celui de personne ; il ne hait ni n'aime rien ; borné au seul instinct physique, il est nul, il est bête : c'est ce que j'ai fait voir dans mon Discours sur l'inégalité.

vendredi 20 janvier 2012

A propos de Flaubert et Stendhal

Tôi sẽ còn chỉnh sửa thêm bớt và dịch lại bài này, mời các bạn đọc tạm.
 
Nếu phải chọn tựa đề cho bài viết của mình thì tôi sẽ chọn "Emma và Louise, người phụ nữ dại dột hay là người yêu lý tưởng ?". Trong đó người phụ nữ dại dột là Emma Bovary và người kia là Louise de Rénal. Bởi vì cùng nói về nhân vật nữ ngoại tình nhưng rõ ràng là thái độ của Flaubert và Stendhal là khác hẳn. Stendhal thiên về miêu tả nội tâm theo một cách như thể ông ấy là người trong cuộc (có thể tưởng tượng ông ấy chính là nhân vật Julien), còn Flaubert là người ngoài cuộc, ông ấy quan sát nhân vật của mình. Như vậy tôi đoán rằng văn Flaubert thiên về óc quan sát (vì lâu rồi tôi không nhớ rõ lắm). Nếu nhìn dưới góc độ ấy thì chúng ta thấy rằng Emma rất đáng thương (và cô ấy thực sự đáng thương). Thế mà với một kết cục cũng bi thảm gần như thế, thì Louise lại là một người yêu hạnh phúc. Tôi kết luận rằng Stendhal yêu nhân vật nữ của mình, còn Flaubert thì thương xót nhân vật của ông.

Hai nhân vật này có nhiều điểm tương đồng và nhiều điểm trái ngược. Cả hai đều đẹp, đáng yêu, có gia đình. Nhưng Emma có chút học hành (sơ sài) do được giáo dục ở tu viện, và đọc nhiều sách tình sử ủy mị, điều đó khiến cô có nhiều mơ mộng không thực tế và Flaubert cho rằng đó chính là nguyên nhân của sự bất hạnh của cô ấy. Louise, hoàn toàn ngược lại, không được nói là có học hành gì, thậm chí là có vẻ ngoài hơn đơn giản, thậm chí có thể nói là ngốc (Stendhal nói), không đua đòi se sua như Emma, nhưng cuối cùng họ có một kết cục khá giống nhau. Như vậy ta có thể thấy rằng, trái ngược với Flaubert, Stendhal không nghĩ rằng việc học hành có ảnh hưởng gì đến bản chất và số phận của người phụ nữ.

La question qui se pose ici est de savoir si Louise de Rênal est vraiment une amoureuse heureuse comme son écrivain le croit. Elle est amoureuse certes, mais cela est-il suffisant pour la rendre heureuse ? On dirait qu’elle l’est puisqu’elle est aimée de son amant Julien, mais c’est plutôt qu’elle se croit être aimée de lui. Julien avec sa jeunesse et son ambition démesurée semble assumer difficilement le rôle d’un amoureux idéal. Stendhal se tait d’ailleurs longtemps sur les mouvements d’âme de son héroïne pendant la période où Julien courait après son ascension sociale. Les moments de bonheur qu’elle éprouvait se condensaient en leur vie à Verrières, leurs retrouvailles avant le départ de Julien à Paris et enfin leurs dernières rencontres avant la mort de celui-ci. Si nous l’observons d’un regard extérieur comme Flaubert l’a fait, elle ne serait guère plus heureuse qu’Emma Bovary. Elle n’est heureuse que dans le regard de son écrivain, ainsi que par sa propre conscience du bonheur.

Si nous convenons alors qu’aimer et être aimé(e) sont les conditions du bonheur, nous pourrions en déduire que Charles Bovary quant à lui est aussi heureux, car il aime sa femme et se croit être aimé d’elle, et cela au moins jusqu’à la mort de sa femme (il pardonne même à ses infidélités). Le bonheur d’amour est dans ce cas là une conception très individuelle. Emma aurait donc toutes les chances d’être heureuse, ou moins malheureuse, si elle se construisait pour elle-même  son bonheur dans l’ignorance totale de l’opinion des autres. Elle ne l’a pas fait, était-elle donc si simple qu’on le croyait ?

S’il y a vraiment deux personnages qui se ressemblent ici, ce sera plutôt Emma Bovary et Julien Sorel. 

Tout d’abord, ils sont tous les deux les protagonistes de leur roman. J’ai déjà constaté que Stendhal pouvait très bien s’identifier à son personnage principal Julien. Quant à Flaubert, il est dit qu’il a déclaré lui-même : « Madame Bovary,  c’est moi !» (mais les littéraires s’en disputent). Autrement dit, les deux auteurs ont mis beaucoup d’eux-mêmes dans leurs personnages, et nous pouvons y voir en partie leur vision du monde.

Ces deux personnages ont une individualité forte. Tous les deux se préoccupent bien d’eux-mêmes et donc se soucient moins bien des autres. Il n’est pas surprenant qu’ils ne soient pas à l’aise dans la communauté à laquelle ils appartiennent, et cela en partie à cause de leur instruction. Emma est la fille d’un fermier riche. La fortune de son père lui a permis de faire des études dans un couvent, et cette éducation la différerait des autres paysannes. Julien, pareillement, est fils d’un scieur, et qui avait l’occasion de s’instruire, grâce à la protection de M. Chélan, le curé du village. Il est donc différent de ses frères, de son père et des autres villageois. Emma et Julien ont tous les deux de la beauté, de la jeunesse, du charme, ils sont aimés, adorés, Emma de ses hommes, Julien de ses femmes. Tous les deux sont ambitieux et poursuivent avec véhémence l’ascension sociale, puis à la fin se retrouvent dans une situation tragique (la désillusion, la mort) à cause de cette ambition. Enfin, tous les deux entraînent ceux qui les aiment dans leur propre tragédie (Charles et Louise, les enfants).

Les personnages se ressemblent bien, mais ce qui diffère les deux auteurs ici, à mon avis, est leur attitude envers leur personnage.  Comme Emma qui se détruisait a excité de la pitié à ses lecteurs, nous pouvons sentir que Flaubert a de la pitié pour son héroïne, et donc de la compréhension pour elle aussi. Il s’agit donc un comportement altruiste. La fin à la Stendhal semble un peu moins tragique, puisque les deux amants meurent dans la conscience de leur amour, cette fin plaît plutôt à un public qui chérit les valeurs individuelles, car, en réalité, la pauvre Madame de Rênal est bien digne de notre pitié aussi, elle qui se contentait de si peu preuve d’amour, et qui mourut de douleur d’amour, sans parler encore de ses trois enfants. Du point de vue de l’altruisme, elle est aussi souffrante qu’Emma.

Si, à partir de toutes ces analyses, je suis amenée à dire quelques mots sur le style de Flaubert et de Stendhal (un peu malgré moi), je dirai que celui de Flaubert est altruiste, et celui de Stendhal est individualiste, et ce propos sans aucune nuance péjorative. Car si l’altruisme nous donne un sentiment du bonheur intérieur, souvent indépendamment de la réalité douloureuse, alors l’individualité donne la force pour le développement personnel. L’homme qui opte pour l’altruisme est heureux mais faible (comme Louise et Charles), l’homme qui chérit son individualité progresse mais se voit malheureux (Emma et Julien). Enfin, celui qui poursuit les deux objectifs en même temps s’exposent perpétuellement à des contradictions, ce qui me fait penser encore à des personnages de N. H. Thiep.

jeudi 19 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (11)

Thưa Đức ông, ngài đã không nhân đạo mà cũng không hào hiệp đối với tôi ; và không những ngài đã có thể được như vậy mà không bỏ qua bất cứ điều gì mà ngài đã nói ra để chống lại cuốn sách của tôi, mà lại còn có tác động tốt hơn. Tôi cũng thú thực là tôi không có quyền đòi hỏi ở ngài những đức tính ấy, cũng không có lý do để mong chờ chúng ở một linh mục. Hãy xem ít nhất thì ngài có công bình và công bằng không ; bởi đó là một nghĩa vụ nghiêm ngặt được đặt ra với tất cả mọi người, và ngay cả những vị thánh cũng không được miễn trừ.
Ngài có hai đối tượng trong lệnh thư của ngài, điều thứ nhất là kiểm duyệt cuốn sách của tôi, điều kia là phỉ báng tôi. Tôi tin rằng tôi sẽ đáp trả ngài rất hay nếu tôi chứng minh rằng hễ chỗ nào ngài  đã bác bỏ tôi thì ngài lập luận dở, và hễ chỗ nào ngài thóa mạ tôi thì ngài vu khống tôi. Nhưng khi mà người ta bước tới chỉ với bằng chứng trong tay, nhưng người ta lại bị bắt buộc, do bởi tầm quan trọng của chủ đề và bởi tính chất của đối thủ, phải theo một trình tự nặng nhọc và theo từng bước một tất cả những sự kiểm duyệt, thì để nói được một từ sẽ cần nhiều trang viết ; ấy vậy mà trong khi một bài châm biếm ngắn khiến ta vui, thì một bài biện hộ dài khiến ta buồn chán. Tuy nhiên tôi phải tự biện hộ, hoặc là tôi sẽ gánh chịu những lời đổ tội sai trái nhất của ngài. Vậy thì tôi sẽ tự vệ, nhưng tôi sẽ bảo vệ danh dự của tôi chứ không phải là cuốn sách của tôi. Đây không phải là việc xem xét Đức tin của cha sở xứ Savoie, mà là Lệnh thư của Đức Tổng Giám mục Paris ; và chỉ vì điều xấu mà ngài nói về người biên soạn cuốn sách khiến cho tôi phải nói về cuốn sách. Tôi làm điều mà tôi phải làm, bởi vì tôi có nghĩa vụ phải làm điều ấy, chứ không phải không biết rằng đó là một vị thế đáng buồn khi ta phải than phiền về một người quyền lực hơn ta ; và rằng bài biện minh cho một kẻ vô tội thật là một bài đọc nhạt nhẽo.
------------------------------------------------
Monseigneur, vous n'avez été pour moi ni humain ni généreux ; et non seulement vous pouviez l'être sans m'épargner aucune des choses que vous avez dites contre mon ouvrage, mais elles n'en auraient fait que mieux leur effet. J'avoue aussi que je n'avais pas droit d'exiger de vous ces vertus, ni lieu de les attendre d'un homme d'Église. Voyons si vous avez été du moins équitable et juste ; car c'est un devoir étroit imposé à tous les hommes, et les saints mêmes n'en sont pas dispensés.
Vous avez deux objets dans votre mandement, l'un de censurer mon livre, l'autre de décrier ma personne. Je croirai vous avoir bien répondu si je prouve que partout où vous m'avez réfuté vous avez mal raisonné, et que partout où vous m'avez insulté vous m'avez calomnié. Mais quand on ne marche que la preuve à la main quand on est forcé, par l'importance du sujet et par la qualité de l'adversaire à prendre une marche pesante et à suivre pied à pied toutes ses censures, pour chaque mot il faut des pages ; et tandis qu'une courte satire amuse, une longue défense ennuie. Cependant il faut que je me défende, ou que je reste chargé par vous des plus fausses imputations. Je me défendrai donc, mais je défendrai mon honneur plutôt que mon livre. Ce n'est point la Profession de foi du vicaire savoyard que j'examine, c'est le Mandement de l'archevêque de Paris ; et ce n'est que le mal qu'il dit de l'éditeur qui me force à parler de l'ouvrage. Je me rendrai ce que je me dois, parce que je le dois, mais sans ignorer que c'est une position bien triste que d'avoir à se plaindre d'un homme plus puissant que soi, et que c'est une bien fade lecture que la justification d'un innocent.

mardi 17 janvier 2012

Thư J.-J. Rousseau gửi Christophe de Beaumont (10)

Từ lâu rồi người ta đã đem xã giao nhà nước thay thế cho công lý.  Tôi biết là có những hoàn cảnh không may đã buộc một con người của công chúng, dù trong lòng không muốn, phải áp bức một công dân tốt. Ai mà lại muốn tỏ ra chừng mực giữa những kẻ thịnh nộ đang lên cơn thịnh nộ ; và tôi hiểu là, trong một cơn cuồng giận như tôi đang là nạn nhân, cần phải gào hú lên cùng với bầy sói, hay là bị nghiến ngấu ; Vậy nên tôi không than phiền việc ngài đã ra một lệnh thư chống lại cuốn sách của tôi ; nhưng tôi than phiền vì ngài đã làm điều đó chống lại con người tôi, với ít tính lương thiện cũng như là sự thật đến thế ; Tôi than phiền vì, trong khi cho phép bằng chính ngôn từ của ngài cái ngôn từ mà ngài chê trách tôi là đã đặt nó vào miệng của nhà tiên tri, ngài lại trấn áp tôi với những lời lăng mạ, vốn không hại gì tới luận cứ của tôi, chúng tấn công danh dự của tôi hay đúng hơn là danh dự của chính ngài ; tôi phàn nàn vì rằng, vô tư lự, không lý do, chẳng cần thiết, không coi trọng ít nhất là những nỗi bất hạnh của tôi, ngài lại xúc phạm tôi với một giọng điệu ít xứng đáng với tính cách của ngài đến thế. Vậy thì tôi đã làm gì ngài ? tôi đã bao lần ngưỡng mộ sự kiên định của ngài trong khi than phiền, thực vậy, về việc sử dụng những định kiến đã khiến ngài tạo ra những định kiến ; tôi đã luôn vinh danh những luân lý của ngài, tôn trọng những phẩm chất của ngài, và ngày nay vẫn còn tôn trọng mặc dù ngài đã giằng xé tôi ?
Chính là bằng cách ấy mà người ta thoát nàn khi người ta tranh cãi và người ta vô lý. Không thể giải quyết những phản bác của tôi, ngài đã biến chúng thành những tội lỗi ; ngài đã tưởng sẽ làm tôi trở nên hèn hạ bằng cách bạc đãi tôi, và ngài đã nhầm ; không làm yếu đi được những lý lẽ của tôi, ngài đã kích động những tấm lòng hào hiệp để khiến tôi thất sủng ;  ngài đã khiến cho những người có lương tri tin rằng họ không thể đánh giá tốt về cuốn sách khi họ đánh giá xấu đến thế về tác giả.

------------------------------------------------------- 
Il y a longtemps qu'on a substitué des bienséances d'État à la justice. Je sais qu'il est des circonstances malheureuses qui forcent un homme public à sévir malgré lui contre un bon citoyen. Qui veut être modéré parmi des furieux s'expose à leur furie ; et je comprends que, dans un déchaînement pareil à celui dont je suis la victime, il faut hurler avec les loups, ou risquer d'être dévoré. Je ne me plains donc pas que vous ayez donné un mandement contre mon livre ; mais je me plains que vous l'ayez donné contre ma personne, avec aussi peu d'honnêteté que de vérité ; je me plains qu'autorisant par votre propre langage celui que vous me reprochez d'avoir mis dans la bouche de l'inspiré, vous m'accabliez d'injures qui, sans nuire à ma cause, attaquant mon honneur ou plutôt le vôtre ; je me plains que de gaieté de cœur, sans raison, sans nécessité, sans respect au moins pour mes malheurs, vous m'outragiez d'un ton si peu digne de votre caractère. Et que vous avais-je donc fait, moi qui parlai toujours de vous avec tant d'estime ; moi qui tant de fois admirai votre inébranlable fermeté en déplorant, il est vrai, l'usage que vos préjugés vous en faisaient faire ; moi qui toujours honorai vos mœurs, qui toujours respectai vos vertus, et qui les respecte encore aujourd'hui que vous m'avez déchiré ?
C'est ainsi qu'on se tire d'affaire quand on veut quereller et qu'on a tort. Ne pouvant résoudre mes objections, vous m'en avez fait des crimes : vous avez cru m'avilir en me maltraitant, et vous vous êtes trompé ; sans affaiblir mes raisons, vous avez intéressé les cœurs généreux à mes disgrâces ; vous avez fait croire aux gens sensés qu'on pouvait ne pas bien juger du livre quand on jugeait si mal de l'auteur.