Une erreur est survenue dans ce gadget

jeudi 16 mai 2013

Luận về nguồn gốc bất bình đẳng giữa con người - JJR (22)


Ta phải nhận xét rằng những từ đầu tiên, mà con người sử dụng, đã có trong trí óc của họ một ý nghĩa rộng hơn nhiều so với những từ mà ta sử dụng trong những ngôn ngữ đã hình thành, và rằng, không biết phân chia lời nói thành những bộ phận cấu thành, đầu tiên họ cho mỗi từ ý nghĩa của cả một mệnh đề. Khi họ bắt đầu phân biệt chủ từ với thuộc tính, động từ với danh từ, mà đó là một cố gắng thiên tài chẳng hề tầm thường, những danh từ loại lúc đầu chỉ toàn là những danh từ riêng, thể nguyên mẫu là thời duy nhất của các động từ, và về phần các tính từ, thì khái niệm đó chỉ phát triển một cách rất là khó khăn, bởi vì tính từ nào cũng đều là trừu tượng, và rằng trừu tượng là một thao tác nặng nhọc, và kém tự nhiên.
Mỗi vật nhận được đầu tiên một tên gọi đặc biệt, không xét đến thể loại, giống loài, mà những giáo viên đầu tiên đều không có khả năng phân biệt được; và tất cả những cá nhân xuất hiện đơn độc trong trí óc họ, như là chúng vốn như vậy trong tấm bảng của tự nhiên. Nếu một cây sồi tên là A, một cây sồi khác sẽ tên là B: theo cách mà kiến thức càng thiển cận, thì từ điển lại càng trải rộng. Sự lúng túng của tất cả cái bảng danh mục này không thể tháo bỏ một cách dễ dàng : bởi vì để sắp xếp những sinh vật dưới những mẫu số chung, và tổng quát, thì cần phải biết được những đặc tính của nó và những sự khác biệt; cần có những sự quan sát, những định nghĩa, nghĩa là, cần lịch sử tự nhiên và siêu hình, nhiều hơn rất nhiều so với những gì con người thời đó có thể có được.
--------------------------------------


On doit juger que les premiers mots, dont les hommes firent usage, eurent dans leur esprit une signification beaucoup plus étendue que n'ont ceux qu'on emploie dans les langues déjà formées, et qu'ignorant la division du discours en ses parties constitutives, ils donnèrent d'abord à chaque mot le sens d'une proposition entière. Quand ils commencèrent à distinguer le sujet d'avec l'attribut, et le verbe d'avec le nom, ce qui ne fut pas un médiocre effort de génie, les substantifs ne furent d'abord qu'autant de noms propres, l'infinitif fut le seul temps des verbes, et à l'égard des adjectifs la notion ne s'en dut développer que fort difficilement, parce que tout adjectif est un mot abstrait, et que les abstractions sont des opérations pénibles, et peu naturelles.
Chaque objet reçut d'abord un nom particulier, sans égard aux genres, et aux espèces, que ces premiers instituteurs n'étaient pas en état de distinguer; et tous les individus se présentèrent isolés à leur esprit, comme ils le sont dans le tableau de la nature. Si un chêne s'appelait A, un autre chêne s'appelait B: de sorte que plus les connaissances étaient bornées, et plus le dictionnaire devint étendu. L'embarras de toute cette nomenclature ne put être levé facilement: car pour ranger les êtres sous des dénominations communes, et génériques, il en fallait connaître les propriétés et les différences; il fallait des observations, et des définitions, c'est-à-dire, de l'histoire naturelle et de la métaphysique, beaucoup plus que les hommes de ce temps-là n'en pouvaient avoir. 

1 commentaire:

  1. Nhị Linh, cứu bồ ! Chữ "substantif", thường được dịch là "danh từ", nhưng thực ra nó bao gồm cả danh từ và đại danh từ, trong tiếng Việt của mình gọi là gì nhỉ ? merci d'avance!

    RépondreSupprimer