Une erreur est survenue dans ce gadget

mardi 30 septembre 2014

Bikini

Da nâu, mông tròn, đùi cơ bắp !
http://danviet.vn/showbiz-giai-tri/nguoi-dep-bien-khoe-da-nau-quyen-ru-353707.html



Nguyen Thi Loan - Candidate Miss World 2014 (5)


 Hoa hậu biển Nguyễn thị Loan, Siêu Mẫu Hồng Quế , Đàm Thu Trang vàYuki
Source image : http://chaobuoisang.net/hoa-hau-bien-nguyen-thi-loan-sieu-mau-hong-que-dam-thu-trang-vayuki-2148916.htm

Coucou Loan và các bạn,

Loan xem hình chụp này là Loan đứng rất đẹp rồi đó nha, vì hình cho người ta đoán được là cô này rất đẹp : ngực nở, thắt đáy lưng ong, mông tròn và cao, cặp giò thoáng thấy cơ bắp.

Nhưng có rất nhiều khuyết điểm nho nhỏ phải sửa đi :

Một là, đuôi tóc trông xơ xác. Mái tóc phải cho cảm giác dày dặn, óng ả, và thực sự tóc Loan là như vậy. Vậy mình đề nghị là khi Loan cắt tóc, thì không được cắt tỉa, vì như vậy làm tóc mỏng đi. Hoặc Loan cắt cái phần đuôi trông xơ xác đi, hoặc Loan uốn cong tròn nó thành lọn.

Hai là áo ngực phải chọn cái loại ôm tròn hơn, không được nhọn như vậy trông kém gợi cảm. Dáng tròn bao giờ cũng gợi cảm. Các cô vũ nữ ballet bao giờ cũng phải đứng và làm điệu bộ sao cho không bao giờ tạo ra những góc nhọn, mà phải là những đường cong tròn (hình trước Đặng Thu Thảo HHĐD đứng tạo dáng đẹp lắm rồi nhưng hai khuỷu tay vẫn còn hơi nhọn, cô ấy nên kéo hai khuỷu tay ra phía sau một chút).

Ba là quần lót không được hiện lên như vậy, các cô Parisiennes các cô ấy cho thế là thô thiển lắm. Hoặc là Loan phải chọn loại quần có viền rất mỏng, hoặc là Loan bỏ nó ra luôn ( không ai biết đâu :-D ).

Bốn là, cái đuôi váy phía sau trông rất xấu, Loan thử lấy ngón tay che nó đi mà xem. Nếu nó ôm chặt theo đùi, thì Loan tưởng tượng xem mông Loan sẽ nổi rõ đẹp như thế nào ? Độ dài váy khá ổn (mình sẽ nói về độ dài váy của Loan), nhưng mình sẽ thích nó ngắn hơn 1cm nữa (không ngắn hơn nữa nhé).

Năm là, lưng vẫn hơi cong quá, giá xương sống thẳng hơn một chút xíu nữa thì đẹp hơn, nhưng chắc như vậy cũng được rồi.

Sáu là, son môi hơi nhợt nhạt. Mặc dù mình cũng không thích son môi màu đậm quá, vì kém tự nhiên, và khi cười hoặc nói sẽ thấy lợi nhợt nhạt, nhưng nó cũng phải khá tương ứng với màu váy mặc trên người. Loan nhìn thử hai cô HH Canada và HH Vénézuéla năm nay ở trên trang MW xem (mình thấy hai cô ấy đáng ngại đấy :-D ), các cô ấy trang điểm tự nhiên, cô HH Canada có đôi môi tô son hơi mọng trông rất tự nhiên và gợi cảm, mặc dù môi cô ấy cũng không đẹp hơn môi Loan đâu. Loan phải thử son của Pháp xem sao, nếu son có chì mà đẹp thì vẫn phải dùng nhân dịp MW. Son của Pháp có loại không bóng, chỉ hơi bóng thôi, mà khi dùng cọ tô lên môi, trông môi mọng lên đẹp ghê lắm. Mình thích loại của Leclerc hoặc là Christian Dior, hiệu Lancôme có vẻ hơi bóng quá mình không thích.

Về quà tặng cho các bạn, thì chắc cũng không bắt buộc đâu nhỉ? Bao nhiêu là bạn thế thì tặng sao cho hết được ? Nhưng không nên tặng khăn. Nếu Loan muốn, thì Loan đặt chừng 10-20 cái nón bài thơ loại chất lượng cao, dây quai bằng lụa tơ tằm đủ màu, và nếu có thời gian thì Loan vẽ lên mỗi chiếc một bông hoa, cái thì hoa sen, cái thì hoa đào, hoa mai chẳng hạn... Các bạn Tây thích món đó lắm, đàn ông họ cũng đội luôn :-D, nhớ chồng nón lên nhau rồi cho vào hộp cứng để nón khỏi bị bẹp. Còn món quà đấu giá, thì mình có ý rồi, nhưng mình đợi khi nào Loan được cấp phép chính thức thì mới nói, chứ nếu họ không cho Loan đi, thay bằng cô khác, thì mình không có tặng không ý tưởng của mình cho bọn cà chớn !! Còn nếu Loan muốn biết sớm, thì phải liên lạc với mình, mình gửi thư riêng. Không biết liên lạc với Loan qua Facebook có được không, nhưng vấn đề là mình không có Facebook !

(Hẹn gặp lại lần tới nghen !)

lundi 29 septembre 2014

Hoa hậu đại dương 2014 - Nụ cười



http://2sao.vn/hoa-hau/hoa-hau-dai-duong-2014-mo-nhat-va-khong-xung-dang-p1004c1046n20140526112232296.vnn

Hoa hậu đẹp chá lửa như vầy mà còn chê ! Dân Việt Nam mình không biết là họ muốn gì !

Loan coi nụ cười của Thu Thảo rộng miệng đẹp chưa ! Thế mà sau đó không biết mọi người nói ra nói vào thế nào mà cổ không dám cười nữa, nên nụ cười về sau có vẻ hơi gượng gạo. Loan cũng vậy đó, cười tự nhiên thì đẹp mà không dám cười ! Cười hết cỡ thì ai cũng hở lợi cả, các cô HH Vénézuéla mấy cổ còn phải cắt lợi đi kia mà ! Nhưng mà không dám cười nữa thì là không được.

Loan thử cười trước gương vài kiểu xem sao ! Yêu cầu là phải cười rộng miệng ra hai bên mang tai, thật tươi vào, và chỉnh một chút sao cho nụ cười cân đối. Khi cố gắng cười cân đối, thì các cơ miệng sẽ giữ chắc hơn nên hở lợi ít hơn. Cô Megan Young cũng cười hở lợi, vẫn đẹp như thường. Mới đây mình xem một clip về Loan ở trong cuộc họp Miss World Việt Nam, khi anh phóng viên chĩa caméra vào Loan, Loan nhoẻn miệng cười rất tươi với ảnh, rất quyến rũ, nhưng không rõ vì sao mà hình ảnh rất ngắn.

Loan xem váy dạ hội của Thu Thảo cũng rất đẹp : phần ôm ngực, eo, mông và đùi rất đẹp, phần gấu váy tỏa xuống cũng uốn lượn mềm mại.

dimanche 28 septembre 2014

Nguyen Thi Loan - Candidate Miss World 2014 (4)

Hello everybody !

Mình nói tiếp về vẻ đẹp và sự cân đối.

Khi ông NBC nói về đẹp và sự cân đối là ông ấy đang nói về toán và tác phẩm nghệ thuật như là tranh vẽ hoặc điêu khắc chẳng hạn. Nhưng khi ta nói về một cơ thể sống, thì tiêu chí về sự cân đối phải mở rộng hơn.

Một cách chủ quan, mình giả thuyết rằng một cơ thể đẹp khác một bức tranh hay một bức tượng ở chỗ là nó cử động, chuyển động được (vì nó có hồn, ông nghệ sĩ Pygmalion phải xin thần Vénus thổi hồn vào bức tượng nàng Galatée của ổng, để cho nàng trở nên sống động). Suy ra là một cơ thể đẹp phải cử động, chuyển động đẹp, tức là một cách cân đối.

Trở lại các nàng HHTG của chúng ta, thì Loan thấy là khi các cô ấy đứng hay ngồi để chụp hình, cử chỉ điệu bộ, tư thế của họ cân đối hài hòa. Khi các cô ấy bước đi, chuyển động cũng rất cân đối nhịp nhàng.

Mình tin rằng, sự cân đối trong chuyển động có liên quan mật thiết tới sự thăng bằng. Chắc là khi tập catwalk, Loan đã phải tập đội một cuốn sách trên đầu để bước đi mà phải giữ sao cho cuốn sách không rơi xuống đất. Giày cao gót đẹp là vì nó tạo ra một thế đứng chông chênh, mà người đẹp vẫn phải đi đứng sao cho thăng bằng. Trong cuộc thi HH Pháp, có một lúc các cô ấy phải đi chân đất, và tất cả các cô ấy đều đi nhón chân, kiễng chân lên, như thể là đang đi giày cao gót vậy. Loan thử làm thế với một cuốn sách trên đầu mà xem, hehe, thật là không dễ chút nào, và cũng phải có cả một bộ giò khỏe, cơ bắp chắc, cổ chân chắc khỏe, thì mới đi lâu như thế được.

Cho nên mình chê Loan là Loan hay đi những đôi giày cao gót nhưng gót giày và đế giày rất to thô, nặng nề, chắc là để đứng cho vững. Không phải thế, Loan phải đứng sao cho chông chênh mà vẫn giữ được thăng bằng. Và mình rất ớn cách tạo tư thế của các cô Việt Nam, ra vẻ đường bệ, họ cho thế là sang trọng, nhưng mà thực ra trông nặng nề. Các cô HHTG ngồi trên ngai, các cô ấy cũng chỉ ngồi rất nhẹ thôi, như thể ngồi lên một đám mây ấy.

Các cô diễn viên ballet, khi họ nhảy lên và rơi xuống đất, thì họ rơi rất nhẹ nhàng, chứ không phải rơi đánh uỵch một cái. Để rơi nhẹ như vậy, thực ra cơ bắp phải rất khỏe (Loan cứ thử nhảy lên thật cao mà đáp xuống đất một cách nhẹ nhàng mà xem - ấy quên, đừng nhảy, lỡ lại té một cú bong gân trật khớp). Thế mà nếu mình ngồi gần sân khấu, thì sẽ nghe tiếng họ rơi bồm bộp xuống sàn rất là mạnh. Cho nên kỳ tới mình sẽ nói về chuyện người đẹp thì phải rất khỏe mạnh.

Không biết Loan có xem blog của mình không, có một đoạn vidéo mình đứng trên bãi biển (bà chị mình quay lén). Bãi sỏi, khi sóng đánh là sỏi trôi, người nào đứng không vững là lảo đảo ngay, càng cố đứng vững càng ngã xiêu ngã vẹo. Thế mà mình phải tự thán phục mình là đứng cứ như trên mặt đất cứng ấy, thật không uổng công ngày xưa luyện tập, có đào tạo bài bản đàng hoàng nhé (tất nhiên là chân phải di chuyển liên tục để tìm vị trí thăng bằng). Có một lúc suýt té ấy là tại mải ngó xem hai anh cứu hộ biển ở đâu, có đang trông chừng mình không :-D

Mình kiếm được một cái site có một loạt hình bikini của Loan hồi 2010 rất đẹp, nhưng sau đó vào lại thì họ đòi đăng nhập !! Loan phải xem lại loạt hình ấy, mặc dù tư thế chưa được hoàn hảo vì đôi khi chưa được cân đối, nhưng Loan sexy một cách rất tự nhiên. Và xem vidéo clip thấy Loan chuyển động rất nhẹ nhàng, thăng bằng một cách tự nhiên. Đấy là nhờ có môn bóng chuyền đấy, đừng ngược đãi, coi thường nó :-D

http://photo.tamtay.vn/xem-anh/304131/Thi-sinh-Nguyen-Thi-Loan-mac-bikini-dep-nhat-vong-CK-HHVN-2010.html

10 ung vien HHVN sang gia nhat

samedi 27 septembre 2014

Hoàng Sa-Trường Sa : Kiện mà không kiện

PLS : Xin chắp tay cúi mình cảm ơn ngài Trương Nhân Tuấn, mong ngài theo dõi không ngơi nghỉ vụ kiện tụng này !

Source image : http://fr.wikipedia.org/wiki/%C3%8Eles_Paracels


Trương Nhân Tuấn nói :

(1)
Cả hai miền như vậy đều tôn trọng nội dung hiệp định Genève 1954 : Việt Nam là một quốc gia thống nhất (ba miền) độc lập và có chủ quyền.

Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước VN duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.

Tức là, trên thế giới chỉ hiện hữu một quốc gia VN duy nhất. Hai thực thể VNCH và VNDCCH, nói theo ngôn ngữ công pháp quốc tế, là hai « quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel ».

Thời điểm phát xuất công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng, phía VNDCCH vẫn còn có nguyện vọng thống nhất đất nước. Nhiều lần phía VNDCCH hối thúc VNCH, cho đến năm 1960, thương nghị giữa hai miền để tiến tới thống nhất Việt Nam theo nội dung của Hiệp định Genève 1954.
Như vậy, trên quan điểm công pháp quốc tế, nước VN chỉ có một, thống nhất ba miền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, có chủ quyền.

Trên tinh thần đó, bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), như công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cũng như một số các hành vi khác của VNDCCH trong khoảng thời gian 1954-1976 (có thể diễn giải là hành vi từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa), vì đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại nội dung các hiệp định quốc tế 1954 và 1973, do đó chúng đều không có giá trị pháp lý.

Tức là công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng được hóa giải một cách dễ dàng, đúng theo tinh thần trọng luật của công pháp quốc tế, phù hợp với trình tự lịch sử.

 (2)
VN đệ đơn đề nghị Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) tuyên bố một số điều :

-      Việc chiếm hữu một lãnh thổ bằng phương pháp vũ lực là vi phạm các nguyên tắc cơ bản của LHQ.
-      Việc chiếm hữu các đảo ở Trường Sa (lập danh sách chi tiết các đảo) năm 1988 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.
-      Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa tháng giêng năm 1974 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.

---------------------------------------------

Xây dựng hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa

 Sự lựa chọn chiến lược : Có một, hai (hay ba) quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975 ?
  1.  Câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975?
Câu trả lời thuộc về các chuyên gia lịch sử và pháp lý có thẩm quyền.

Đối với một công dân Việt Nam bình thường, có một, hai (hay ba) quốc gia mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa (và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) thì không có gì là quan trọng. Có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam thì cũng chỉ là những “chi tiết lịch sử”, trong một giai đoạn lịch sử phân chia nước Việt Nam. Điều quan trọng ngày nay : Việt Nam là một quốc gia độc lập và thống nhất. Những con số một, hai, ba… trong quá khứ không làm thay đổi được thực tế này.

Nhưng vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc đã khiến vấn đề không đơn giản. Trên phương diện pháp lý, có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam (trong khoảng thời gian 1954-1975) là sẽ có một, hai hay ba hồ sơ pháp lý khác nhau. Trên phương diện lịch sử, có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam là sẽ có một, hai hay ba quan điểm lịch sử về chủ quyền (Hoàng Sa và Trường Sa) khác nhau.

Dĩ nhiên người Việt nào cũng muốn hồ sơ chủ quyền về pháp lý và lịch sử của Việt Nam vững chắc, một mặt để tranh cãi với Trung Quốc trên bàn thuơng nghị, mặt khác có thể thắng được Trung Quốc nếu tranh chấp đưa ra một trọng tài quốc tế để phân xử.

Vấn đề đặt ra, Việt Nam cần đứng trên quan điểm nào để xây dựng một hồ sơ pháp lý “có lợi” nhất ?
  1.  Để ý, trong những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ (tại các vùng lãnh thổ không có người ở như hải đảo), phe thắng kiện luôn là phía chứng minh được sự liên tục về thẩm quyền quốc gia (trong một thời gian dài) trên các vùng lãnh thổ đó. Vấn đề “chủ quyền lịch sử” tuy quan trọng nhưng vẫn không quan trọng bằng việc liên tục thể hiện thẩm quyền quốc gia (effectivité).
Nhiều luật gia quốc tế nhìn nhận, chủ quyền (lịch sử) của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa, từ khi khám phá cho đến năm 1975 là “vững” hơn lý lẽ về chủ quyền của Trung Quốc.

Bất kể những sự thay đổi về thể chế, về chính trị, từ chế độ phong kiến vương quyền nhà Nguyễn sang chế độ bảo hộ của Pháp; từ chế độ bảo hộ Pháp sang chính quyền Quốc Gia Việt Nam của ông Bảo Đại, sau đó chuyển sang các chế độ cộng hòa ở miền Nam cho đến 30 tháng 4 năm 1975… chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các vùng lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa đã thể hiện một cách liên tục.

Trải qua nhiều triều đại, nhiều thể chế chính trị khác nhau, vấn đề “kế thừa” (chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa) đã được (các thể chế chính trị nối tiếp nhau) thể hiện một cách minh bạch, phù hợp với luật lệ quốc tế.

Chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa thì không được luật pháp quốc tế nhìn nhận, mặc dầu nước này trên thực tế đã chiếm hữu toàn bộ quần đảo.

Tháng 4 năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Đông Dương trong lúc quân đội của quốc gia Việt Nam chưa kịp củng cố, Trung Quốc đã đưa quân xâm chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh - Amphitrite). Tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực xâm chiếm nốt nhóm còn lại (nhóm Nguyệt Thiềm - Croissant). Các hành vi xâm lược này không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc tại vùng lãnh thổ Hoàng Sa vì hai lẽ: 1/ luật lệ quốc tế không nhìn nhận chủ quyền quốc gia tại vùng lãnh thổ nếu việc chiếm hữu thể hiện bằng vũ lực. 2/ Chính quyền VNCH liên tục khẳng định chủ quyền của VN tại Hoàng Sa đồng thời không ngừng lên án hành vi xâm lăng của TQ trước trường quốc tế.

Chỉ sau ngày 30-4-1975, chính quyền VNCH sụp đổ, chủ quyền của quốc gia VN tại các vùng lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa bị thách thức nặng nề bởi Trung Quốc.

Việc “kế thừa”, tức là cái gạch nối, tạo sự “liên tục quốc gia” mỗi khi quốc gia có thay đổi thể chế chính trị, hoặc có sáp nhập (hay ly khai) một vùng lãnh thổ.

Ngày 30-4-1975 là một biến cố trọng đại của dân tộc và quốc gia Việt Nam. Một vùng lãnh thổ (VNCH và sau đó là CHMNVN) được sáp nhập vào một vùng lãnh thổ khác (VNDCCH), tạo thành một nước Việt Nam độc lập, thống nhất ba miền (CHXHCNVN). Vấn đề “kế thừa” dĩ nhiên đặt ra.

Quốc gia Việt Nam có giữ được sự liên tục chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không là tùy thuộc vào thể thức “kế thừa” VNCH của các chính quyền tiếp nối sau ngày 30-4-1975.  

Nếu chỉ có một quốc gia Việt Nam, việc kế thừa giữa các vùng lãnh thổ (VNCH, CHMNVN và VNDCCH) là “kế thừa” giữa các “chính phủ”, là vấn đề “nội bộ” của Việt Nam. Việc kế thừa không phải là đối tượng của công pháp quốc tế.

Nếu có trên hai “quốc gia” Việt Nam: quốc gia VNCH, quốc gia CHMNVN và quốc gia VNDCCH. Việc kế thừa ở đây là kế thừa giữa “quốc gia” với “quốc gia”. Vì chủ thể “quốc gia” là đối tượng của quốc tế công pháp, việc kế thừa trở thành đối tượng của quốc tế công pháp.

Việc “lựa chọn” có một, hai hay ba quốc gia VN vì vậy trở thành một lựa chọn mang tính chiến lược.
  1.  Thực ra trong lịch sử không có chỗ cho việc “lựa chọn”. Lịch sử là sự ghi chép lại những sự việc liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa... đã xảy ra trong quá khứ. Người viết sử trung thực thì dữ kiện (hay sự kiện) lịch sử chỉ có một. Nhưng lịch sử (Việt Nam) thường xuyên được được viết bởi phe chiến thắng. Trong trường hợp này người ta cũng không thể “lựa chọn”, mà chỉ có thể “thiết lập” lại sự thật cho lịch sử.
“Sự thật” lịch sử nào cần phải thiết lập lại trong giai đoạn 1954-1975 ?

Có ít nhất 4 phe tham dự vào cuộc chiến: VNDCCH, VNCH, MTGPMN và Mỹ (và một số nước đồng minh). Vì vậy có 4 lập trường (quan điểm) khác nhau về cuộc chiến. Mỗi bên có một lý lẽ riêng biệt để biện hộ cho việc can dự (vào chiến tranh) của phe mình. Phe nào cũng cho rằng cuộc chiến mà mình tham dự là cuộc chiến “có chính nghĩa” (jus ad bellum). Ngoài ra còn có quan điểm khách quan của các luật gia, sử gia thuộc các nước trên thế giới.

Một số quan điểm (học thuyết) mà các học giả quốc tế thường nhắc khi nói đến chiến tranh VN. Những người này cho rằng đây là cuộc chiến : chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cách mạng, nội chiến (guerre civile), chiến tranh ý thức hệ, xâm lược vũ trang (agression armée), tự vệ chính đáng đơn phương và đa phương …

Thật vậy, cuộc chiến Việt Nam có đầy đủ những yếu tố cấu thành các lý thuyết về chiến tranh đã liệt kê. Nhưng các qui ước quốc tế (về chiến tranh) của các học thuyết này đối chọi nhau.

Dưới ánh sáng của từng học thuyết chiến tranh khác nhau, tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam trong thời gian này cũng được nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau.

3.1 Quan điểm của VNDCCH miền bắc, cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến “thần thánh” chống Mỹ cứu nước, được thể hiện dưới hai lý thuyết (về chiến tranh) : “chiến tranh cách mạng” của chủ nghĩa Mao và “ chiến tranh giải phóng dân tộc”. Hành vi can thiệp của người Mỹ vào miền Nam bị lên án là hành vi “xâm lược”. Chính quyền VNCH ở miền Nam bị xem là chính quyền “ngụy”, tay sai của “đế quốc Mỹ”. Tức là miền Bắc quan niệm chỉ có một quốc gia Việt Nam duy nhất (qua hiến pháp), đó là quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

(Dầu vậy lý tưởng dân tộc “đánh Mỹ cứu nước” lại nhập nhằng với lý tưởng quốc tế cộng sản “đánh Mỹ cũng là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”. Sau 1975, Việt Nam trở thành “tên xung kích vô sản” sừng sỏ ở phương đông).

3.2 Quan điểm của miền Nam VNCH, cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến “bảo vệ tự do”. Chính quyền VNCH có lúc tự hào là “tiền đồn của thế giới tự do”. Cộng sản miền Bắc bị xem là “phỉ”: “cộng phỉ”. Mục đích của những nhà cầm quyền miền Nam là “bắc tiến”, giải phóng miền Bắc ra khỏi ách “cộng sản”. Quan điểm của miền Nam cũng chỉ có một quốc gia Việt Nam duy nhất (qua hiến pháp), đó là Việt Nam Cộng hòa.

Quan điểm của hai miền Bắc và Nam trùng hợp “chỉ có một nước Việt Nam duy nhất, thống nhất ba miền trung, nam, bắc” là do sự ràng buộc của Hiệp định Genève 1954: “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất”. Điều này nên nhắc vì đây là thành quả tranh đấu của nhiều tầng lớp, phe phái, của nhiều thế hệ dân tộc Việt Nam nhằm chống chủ trương sáp nhập “Nam Kỳ” vào lãnh thổ của đế quốc Pháp.  

3.3 Quan điểm của Hoa Kỳ. Phía này không nhìn nhận Hiệp định Genève 1954. Họ cho rằng có hai quốc gia Việt Nam (độc lập, có chủ quyền): VNDCCH và VNCH. Hoa Kỳ “lên án” miền bắc (VNDCCH) đã “xâm lược vũ trang” quốc gia VNCH. Trên quan điểm công pháp quốc tế, VNCH có quyền “tự vệ chính đáng”. Hoa Kỳ (và các nước đồng minh) có nghĩa vụ phải giúp đỡ Việt Nam để bảo vệ độc lập và chủ quyền của nước này (theo đúng các qui định của Hiến chương LHQ).

Trong khoảng thời gian 1954-1972, Hoa Kỳ luôn thuyết phục các lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa rằng Hoa Kỳ sẽ giúp cho VNCH trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Vì chỉ khi VNCH là một quốc gia độc lập, có chủ quyền thì sự can thiệp của Hoa Kỳ mới chính đáng, jus in bello, theo nguyên tắc “quyền tự vệ chính đáng đa phương”. Hoa Kỳ muốn biến một cuộc “nội chiến” trở thành một cuộc “chiến tranh đa quốc gia”, biến chiến trường Việt Nam thành thí điểm nóng cho cuộc chiến tranh lạnh.

(Sự can dự của Mỹ vào chiến tranh VN đã làm chia rẽ giới học giả, luật gia của nước này. Một số ủng hộ lập trường của chính phủ, cho rằng sự can thiệp vào Việt Nam là chính đáng, phù hợp với luật lệ quốc tế. Số còn lại phản đối, cho rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam là “không chính đáng”, vi phạm luật lệ quốc tế do can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền”.)
  
3.4 Quan điểm của các sử gia, học giả trên thế giới, chiến tranh Việt Nam 1954-1975 vừa là một cuộc “nội chiến” vừa là cuộc chiến “ý thức hệ”. Việt Nam là “thí điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh”. Các bên lâm chiến chỉ là những thành phần của dân tộc Việt Nam. Các bên được sự trợ giúp vũ khí đạn dược cũng như nhân sự của các thế lực từ bên ngoài.

Nội dung Hiệp định Genève 1954 “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất” được các nước trên thế giới tôn trọng.
  1.  Chiến tranh đã ngưng. Việt Nam được độc lập và thống nhất đã bốn thập niên. Vấn đề “chính nghĩa” của các phe (trong cuộc chiến) lần hồi trở thành những chi tiết rất phụ của lịch sử. Có một, hai hay ba quốc gia VN (trong giai đoạn 54-75) thì có gì là quan trọng khi mà đất nước VN đã thống nhất, nước VN đã dành được độc lập và có chủ quyền ?
Điều quan trọng là đứng dưới ánh sáng của lý thuyết luật học nào, bằng những dữ kiện lịch sử nào, hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa chắc chắn nhất, có lợi nhất ?

Điều này tùy thuộc vào nội dung của hồ sơ chủ quyền phía Trung Quốc. Hồ sơ của phía Trung Quốc đã nói cái gì ?. Nhà cầm quyền Bắc Kinh đã dựa vào đâu để cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền “bất khả tranh nghị” của Trung Quốc ?

Gác lại một bên các đòi hỏi phi lý về “quyền lịch sử” ở Biển Đông, về “đường chữ U chín đoạn”, ở đây ta chỉ xét các lý lẽ mà Trung Quốc đã đưa ra trước các diễn đàn quốc tế sau khi đặt giàn khoan 981 (trên thềm lục địa của Việt Nam). Chắc chắn đây là những lý lẽ mà phía Trung Quốc cho là quan trọng nhất, có thể thuyết phục được dư luận quốc tế về sự chính đáng của mình: khu vực mà họ đặt giàn khoan 981 thuộc (quyền) chủ quyền của Trung Quốc.

Các lý lẽ, thực ra là các “bằng chứng”, gồm một số tài liệu giáo khoa, bản đồ do phía VN xuất bản, trong đó ghi nhận Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) thuộc về Trung Quốc. Ngoài ra là lá thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, còn gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” viết ngày 14 tháng 9 năm 1958, công nhận tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc.

Các “bằng chứng” này có thể số đông người Việt Nam chưa biết đến, nhưng từ thập niên 70 các học giả trên thế giới đã đề cập tới.

Đầu thập niên 90, một số tài liệu nghiên cứu về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông được các học giả quốc tế công bố, trong đó có đề cập đến công hàm 1958 như là một bằng chứng quan trọng. Một số học giả cho rằng, qua công hàm 1958, Việt Nam đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Việc này khiến VN bị phạm nguyên tắc “Estoppel”, tức nguyên tắc không được phép nói ngược lại. Tức là, trong quá khứ, quốc gia tiền nhiệm của CHXHCNVN, gọi là VNDCCH, đã “nhìn nhận” chủ quyền của TQ tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hôm nay quốc gia tiếp nối VNDCCH, tức là quốc gia CHXHCNVN, không thể nói ngược lại (hai quần đảo đó là của VN).
  1.  Trước thách thức như vậy, phía VN đã có biện pháp nào để hóa giải?
Nếu không có điều lầm lẫn, ít nhất cho đến tháng 5 năm 2014, lập trường của hầu hết (nếu không nói là tất cả) các học giả Việt Nam trong ngoài nước, và cũng là lập trường “chính thức” của Việt Nam hiện nay, là có hai quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975. Lập luận cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quản lý của quốc gia VNCH, quốc gia VNDCCH không có thẩm quyền về hai quần đảo này. Nguyên tắc “Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có chủ quyền”, vì vậy công hàm 1958 là không có giá trị pháp lý.

Lập luận này dẫn từ hồ sơ của bà học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong tập “La Souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys », nxb Harmattan, ISBN 2-7384-4061-4. Đây là một tập hồ sơ về pháp lý và lịch sử quan trọng, mang tính học thuật, thuyết phục. Tác giả là người có tấm lòng đối với dân tộc Việt Nam.

Nguyên văn lẽ ra phải viết đầy đủ như sau :

« Dans ce contexte, les déclarations ou pris de position éventuelles des autorités du Nord-Vietnam sont sans conséquences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement compétent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité[i] ».

Tạm dịch : trong bối cảnh đó, những tuyên bố hay lập trường nào đó của nhà cầm quyền miền Bắc thì không ảnh hưởng lên danh nghĩa chủ quyền. Nhà nước này không phải là nhà nước có thẩm quyền về lãnh thổ đối với các quần đảo. Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền.

Đó là câu « On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité - Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền ».

Vấn đề là người ta không thể « trích ngang » một « ý » trong một « nguồn ý », rồi diễn giải sao cho phù hợp sở nguyện của mình. Ý nghĩa của câu này không thể tách rời « nguồn ý », đến từ « bối cảnh » mà tác giả cố gắng diễn đạt.

Bối cảnh đó là học giả Monique Chemillier-Gendreau phản biện ông L. Thomas Bradford, trong tập « The Spratly Island Imbroglio : a tangled web of conflict »; Ông này cho rằng, qua công hàm Phạm Văn Đồng, “Vietnam réaffirmé sa reconnaissance de la prétention chinois sur les archipels » - « Việc Nam tái xác nhận sự công nhận của họ về chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo ».

Lập luận của bà Monique Chemillier-Gendreau nhằm phủ nhận ý kiến của Thomas Bradford, khi ông này cho rằng VN bị Estoppel. Ý kiến của bà là không thể diễn giải Công hàm 1958 như là hành vi « tái xác nhận việc công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS ».

« Estoppel » là « bối cảnh » của câu văn.

Ý kiến của bà Monique Chemillier-Gendreau không chấm dứt ở đó. Bà viết tiếp (nhưng các học giả VN lại không để ý) :

« Néanmoins, son silence devant l’affirmation de souveraineté chinoise sur les iles peut être interprété comme un acquiescement, et cela autant plus qu’il est renforcé par la déclaration relative aux zones de combat et les articles du Nhan Dan.[ii] »
Tạm dịch : « dầu vậy, sự im lặng (của nhà nước VNDCCH) trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Hoa tại các đảo có thể được hiểu như là một sự đồng thuận. Việc này càng được củng cố qua các tuyên bố liên quan đến vùng chiến sự và những bài viết trên báo Nhân Dân. »

Thế nào là « sự đồng thuận – acquiescement » ? hiệu lực pháp lý của « sự đồng thuận – acquiescement » là như thế nào ?

« l’Acquiescement » được định nghĩa là « thuật ngữ thuộc quá trình tố tụng chỉ định hành vi qua đó một bên tranh chấp, một cách minh thị hay mặc thị, vô điều kiện hay có điều kiện, chấp nhận một nghĩa vụ hay một yêu cầu của bên kia. »

Theo tập quán quốc tế, (thể hiện qua các án lệ của các tòa án quốc tế), ít khi nào một bên bị mắc « acquiescement » chỉ vì một dấu hiệu (ưng thuận) đơn lẻ nào đó. Một « sự đồng thuận – acquiescement » luôn là sự kết tinh của một quá trình logic, một tập hợp những « dấu hiệu » thể hiện trong một thời gian lâu dài, từ đó cấu thành một « lập trường » (một thái độ) của một bên.

Sau khi Trung Quốc ra tuyên bố đơn phương về lãnh thổ và hải phận ngày 4 tháng 9 năm 1958. Theo tập quán quốc tế, các nước nếu công nhận lập trường này, sẽ gởi công hàm trả lời mang hình thức « reconnaissance – công nhận ». Trường hợp không đồng ý thì gởi công hàm « phản đối – protestation ».

Công hàm 1958 là một tuyên bố đơn phương, công nhận những đòi hỏi của TQ trong tuyên bố 4-9-1958. Nếu quan niệm VNDCCH (và VNCH) là quốc gia độc lập, có chủ quyền, công hàm 1958 là một vấn đề thuộc công pháp quốc tế, có hiệu lực pháp lý ràng buộc.

Để nhấn mạnh tầm quan trọng của một « tuyên bố đơn phương », ta thử giả sử rằng phía VN « im lặng », không bày tỏ bất kỳ một hành vi nào liên quan đến tuyên bố của Trung Quốc. (Tức giả sử rằng công hàm Phạm Văn Đồng không hiện hữu, hay đã mất hiệu lực do sự « hóa giải » của học giả VN).

Theo tập quán quốc tế, thái độ « im lặng » này sẽ được hiểu là sự « đồng ý ám thị - consentement tacite ».

Thí dụ trường hợp Trung quốc ra tuyên bố về vùng « Nhận diện phòng không » ngày 23-11-2013. Tuyên bố này phù hợp với công pháp quốc tế.

Một quốc gia nếu không lên tiếng phản đối, hay bảo lưu một điều nào đó trong tuyên bố (như chồng lấn vùng không gian, không chấp nhận việc đe dọa sử dụng vũ lực – theo điều 3 của Tuyên bố...) thì tuyên bố này tự động có hiệu lực.

Thái độ « im lặng » của VN sau khi TQ tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của họ năm 1958, có nghĩa là sự « đồng ý ám thị », một hình thức thụ động của nguyên tắc « acquiescement ».

Một số hành vi khác củng cố thái độ « đồng thuận » của VN (về chủ quyền của TQ tại HS), điều này học giả Monique Chemillier-Gendreau đã nhắc tới. Đó là các bài viết trên báo Nhân Dân vào thập niên 60 nhìn nhận vùng biển Hoàng Sa (mà Đệ thất hạm đội của Mỹ đang hoạt động) thuộc về TQ. Hoặc các bản đồ do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960 (trên đó quần đảo Nam Sa – tức Trường Sa - được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc). Hay bản đồ do Cục Bản đồ Việt Nam xuất bản năm 1972, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp.

Thêm vào đó là các tài liệu (sách giáo khoa), bản đồ do VN xuất bản mà phía TQ vừa công bố mới đây, theo đó Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc.

Thái độ khác, quan trọng hơn cả là sự « im lặng » của VNDCCH vào tháng giêng năm 1974 khi Trung quốc dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa của VN.

Sự im lặng của VNDCCH được hiểu là « đồng ý ám thị » hành vi của Trung quốc là chính đáng. Mặt khác, các bên VNDCCH và MTGPMN từ chối ký tên vào bản tuyên bố phản đối TQ do phía VNCH đề nghị.

Các điều này kết tinh, đồng thời củng cố, yếu tố « acquiescement - đồng thuận » của VN về các đòi hỏi về danh nghĩa chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Như vậy lập luận có hai quốc gia Việt Nam là một điều phiêu lưu và nguy hiểm. Ta không ngạc nhiên khi phía TQ dẫn công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng ra trước diễn đàn quốc tế LHQ.

Mặt khác, khi lập luận « Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền », là nhìn nhận quốc gia VNDCCH chưa bao giờ có chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi đặt ra, bằng cách nào quốc gia CHXHCNVN hôm nay có chủ quyền ở hai quần đảo này ? Bằng cách « kế thừa » từ quốc gia VNCH ? Hoàng Sa bị TQ chiếm trên tay VNCH tháng giêng năm 1974, làm sao có thể kế thừa một vật đã bị mất ?

Một câu hỏi (chính đáng) đã đặt ra, từ những lần bàn luận trên Facebook : anh đã giết chết người ta thì anh có tư cách gì để kế thừa người ta ?

Từ « giết chết » sử dụng ở đây có thể không phù hợp, nhưng thực tế lịch sử giữa hai thực thể VNCH và VNDCCH, từ năm 1959 đến 1975, đã thể hiện trong chiều hướng như vậy.

học giả lập luận rằng sau 1975 chính phủ CHMNVN kế thừa VNCH. Kế thừa ở đây là kế thừa « chính phủ » với « chính phủ ». Trước đây 40 năm thì người ta có thể lập luận như vậy. Hôm nay, chỉ cần bấm các chữ MTGPMN (viết tắt) trên google thì cũng sẽ hiện ra các nguồn dẫn nói về Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền nam. Theo đó người ta biết rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được khai sinh ngày 20-12-1960, theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), do bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam lãnh đạo.

Tức là CHMNVN chỉ là một « con đẻ » không thể tách rời của VNDCCH mà phía Trung Quốc là « bà mụ » đỡ đẻ. Nó không thể gọi là một « chính phủ » trên danh nghĩa pháp lý, vì nó bị « giật dây », nếu không nói là cánh tay nối dài của VNDCCH.

Giả sử vấn đề tranh chấp được giải quyết bằng một trọng tài quốc tế, trước Tòa, làm thế nào phía VN thuyết phục Tòa rằng CHMNVN (một bộ phận không tách rời của VNDCCH) « kế thừa » VNCH ?

Nhưng cũng thử giả sử rằng VN « qua mặt » được Tòa, chính phủ CHMNVN kế thừa danh nghĩa chủ quyền Hoàng Sa từ VNCH một cách tốt đẹp.

Xét lại các văn bản ngoại giao sau 1975, quốc gia CHXHCNVN « tiếp nối » quốc gia VNDCCH. Vấn đề là quốc gia CHXHCNVN làm thế nào cùng lúc kế thừa hai lập trường đối nghịch : lập trường nhìn nhận chủ quyền HS và TS thuộc TQ của VNDCCH và lập trường đối kháng của VNCH ?.

  1. Có người lại kêu gọi nhà nước VN hôm nay « công nhận » VNCH như là một « quốc gia ».
Việc « công nhận quốc gia » là quan trọng trong quan hệ quốc tế, vì nó xác định sự hiện hữu (tư cách pháp nhân) một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện bằng việc « thiết lập bang giao », qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các quốc gia. Việc công nhận quốc gia là các bên chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, về lãnh thổ và về chính phủ của các bên.

Trên tinh thần này thì nhà nước VNDCCH, tức nhà nước tiền nhiệm của CHXHCNVN, chưa bao giờ « công nhận » sự hiện hữu của VNCH (chưa nói đến việc VNCH có là « quốc gia » hay không). Hai miền Nam, Bắc là hai đối thủ thù nghịch nhau trong cuộc nội chiến 54-75, chưa bao giờ có thiết lập quan hệ ngoại giao mà chỉ có đối đầu bằng súng đạn.

Mặt khác, nước CHXHCNVN cũng không thể bây giờ mới « công nhận » VNCH là một quốc gia. Đơn giản vì người ta không thể công nhận cái đã không còn hiện hữu.

Kêu gọi nhà nước VN hôm nay « công nhận » VNCH là quốc gia thì cũng như việc kêu gọi Bắc Kinh công nhận Đài Loan là « quốc gia ».

Nhiều người so sánh tình trạng pháp lý của quốc gia VN (từ 1954-1975) tương tự như trường hợp Nam, Bắc Hàn, Đông Tây Đức.

Trường hợp hai miền Nam và Bắc Triều Tiên cùng gia nhập LHQ cuối năm 1991, theo đề nghị của Gorbachev, vì chiến tranh lạnh chấm dứt. Cộng đồng quốc tế có thói quen xem hai miền là hai « quốc gia », nhưng thực tế không phải vậy. Hai xứ này cùng gia nhập LHQ trên tinh thần của Kết ước « Hòa giải và hợp tác » ký giữa hai miền ngày 13-12-1991. Lời mở đầu của kết ước khẳng định các quan hệ hai bên không phải là quan hệ giữa « quốc gia », mà chỉ là một quan hệ tạm thời trong tiến trình thống nhứt đất nước.

Tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam bị phân chia thực ra gần gũi với trường hợp giữa Trung Quốc lục địa với Đài Loan. Hội nghị San Francisco lấy lại Đài Loan từ Nhật và giao trả lại cho Trung Hoa. Đài Loan vì vậy là một « vùng lãnh thổ » của quốc gia Trung Hoa. Hiệp định Genève 1954 phân chia VN thành hai miền : VNDCCH ở miền bắc và VNCH ở miền Nam. Cả hai cùng thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất.

Nếu Bắc Kinh không thể « công nhận » Đài Loan là « quốc gia » thì VNDCCH (lúc đó) cũng không thể « công nhận » VNCH là « quốc gia » được.

  1. Việc lựa chọn quan điểm có « hai quốc gia Việt Nam » đã đặt hồ sơ pháp lý của VN vào thế kém. Trong khi, trên phương diện lịch sử, ta có thể có một sự lựa chọn tốt hơn.
Trở lại lập trường của Hoa Kỳ. Lập trường này chủ trương có hai quốc gia VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập có chủ quyền.

Chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam được kết thúc qua Hiệp định Paris 1973. Người Mỹ đã thất bại, vì đã không thể giúp VNCH trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, cũng không thể biến cuộc “nội chiến” thành cuộc “chiến tranh đa quốc gia”. Cuối cuộc chiến, chỉ có một mình Hoa Kỳ ở lại. Thế giới lúc đó hầu như đồng loạt lên án Hoa Kỳ về việc tham dự cuộc chiến.

Nội dung Hiệp định Paris 1973 khẳng định lại hiệu lực Hiệp định Genève 1954: “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất”.

Tức là, người Mỹ đã hoài công xây dựng một nước VNCH độc lập, có chủ quyền, liên tục (tính gọn) từ 1954 đến 1973.

Sau khi hiệp định được ký kết, phía VNDCCH tiếp tục chiến tranh như Mỹ không thể trở lại. Lý do : đã nhìn nhận VN là một nước độc lập, có chủ quyền. Chiến tranh VN vì vậy trở thành cuộc nội chiến. Việt Nam được thống nhất theo « phương cách » của nó. Hoa Kỳ không còn lý do để can thiệp.

Dầu vậy, phía Hoa Kỳ “vớt vát” được một điều trong Hiệp định Paris: Dân miền Nam giữ được quyền “dân tộc tự quyết”. Điều này được đưa vào thực sự không có ý nghĩa lớn lao, như nhằm bảo vệ sự “chính đáng” của Hoa Kỳ khi tham dự vào cuộc chiến. Hiệp định Paris 1973 là cái cớ để “đồng minh tháo chạy” trong danh dự. Thì cái gọi là quyền “dân tộc tự quyết” của “dân tộc miền Nam” có thể chỉ là một “thủ thuật pháp lý”, phòng ngừa sau này lấy cớ chính đáng để “khi đồng minh trở lại”.

Thật vậy, giả sử dân tộc miền Nam đồng lòng đứng lên “đòi quyền tự quyết” (như trường hợp Kossovo hay Crimée), thì Hoa Kỳ có thể bị “ràng buộc” bởi Hiệp định Paris 1973 để vào can thiệp.

Việc hô hào « công nhận » VNCH đã là một « quốc gia » vì vậy sẽ mở đường cho nhiều giả thuyết bất lợi về sau, như miền Nam (VNCH cũ) có thể ly khai, tuyên bố độc lập. Đây là điều không người VN nào mong muốn.
  1. Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhất.
Trên phương diện thực tế và lịch sử, 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève quyết định phân chia quốc gia VN thành hai miền tại vĩ tuyến 17. Hiệp định nhấn mạnh việc phân chia chỉ tạm thời, đường vĩ tuyến 17 trong bất kỳ trường hợp nào, không thể xem đó là đường biên giới phân định lãnh thổ hay chính trị. Hai miền Nam và Bắc lần lượt mang tên Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nội dung Hiệp định Genève xác nhận VN là một nước « độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất ».

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.

Hiệp định Paris năm 1973 xác định lại nội dung hiệp định Genève 1954 : « Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đã công nhận. »

Cả hai hiệp định này đều được bảo trợ của Trung Quốc, cũng như các cường quốc Mỹ, Anh, Pháp…

Năm 1956 VNCH công bố Hiến pháp, điều 1 khẳng định : VN là một nước cộng hòa, độc lập, thống nhất và bất khả phân. Về phía VNDCCH, Hiến pháp 1946, điều 2 xác định VN là một khối thống nhất bắc, trung, nam không thể phân chia. Hiến pháp 1959, những dòng đầu đã khẳng định VN là một nước thống nhất từ Lạng sơn đến Cà Mau.

Cả hai miền như vậy đều tôn trọng nội dung hiệp định Genève 1954 : Việt Nam là một quốc gia thống nhất (ba miền) độc lập và có chủ quyền.

Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước VN duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.

Tức là, trên thế giới chỉ hiện hữu một quốc gia VN duy nhất. Hai thực thể VNCH và VNDCCH, nói theo ngôn ngữ công pháp quốc tế, là hai « quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel ».

Thời điểm phát xuất công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng, phía VNDCCH vẫn còn có nguyện vọng thống nhất đất nước. Nhiều lần phía VNDCCH hối thúc VNCH, cho đến năm 1960, thương nghị giữa hai miền để tiến tới thống nhất Việt Nam theo nội dung của Hiệp định Genève 1954.

Như vậy, trên quan điểm công pháp quốc tế, nước VN chỉ có một, thống nhất ba miền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, có chủ quyền.

Trên tinh thần đó, bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), như công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cũng như một số các hành vi khác của VNDCCH trong khoảng thời gian 1954-1976 (có thể diễn giải là hành vi từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa), vì đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại nội dung các hiệp định quốc tế 1954 và 1973, do đó chúng đều không có giá trị pháp lý.

Tức là công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng được hóa giải một cách dễ dàng, đúng theo tinh thần trọng luật của công pháp quốc tế, phù hợp với trình tự lịch sử.

Về vấn đề kế thừa, hai thực thể chính trị VNCH và VNDCCH chỉ là hai miền thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất, việc kế thừa lại là việc « nội bộ » của quốc gia, không thuộc phạm vi công pháp quốc tế. Danh nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS do đó được giữ liên tục, từ thời các vua chúa VN, sang đến thời thuộc Pháp, thuộc Nhật, hay đồng minh quản lý, cuối cùng chuyển sang VNCH sau đó là VN hôm nay.
  1. Vấn đề kiện tụng.
Kiện tụng là một việc phiêu lưu, VN có thể thắng, có thể thua. Phía TQ bảo lưu ở LHQ sẽ không chấp nhận bất kỳ một trọng tài nào giải quyết tranh chấp lãnh thổ (hay những vấn đề liên quan đến lãnh thổ). Không gian pháp lý của VN rất là hẹp. Các học giả, luật gia VN cần phải tìm ra giải pháp kiện thế nào để vừa không bị tòa bác đơn do các bảo lưu của TQ, vừa không bị thua kiện do hồ sơ quá yếu.

Cá nhân tôi đã có một đề nghị đã công bố, ghi lại ở đây :

VN đệ đơn đề nghị Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) tuyên bố một số điều :

-      Việc chiếm hữu một lãnh thổ bằng phương pháp vũ lực là vi phạm các nguyên tắc cơ bản của LHQ.
-      Việc chiếm hữu các đảo ở Trường Sa (lập danh sách chi tiết các đảo) năm 1988 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.
-      Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa tháng giêng năm 1974 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.

Ba điều yêu cầu Tòa tuyên bố hoàn toàn thuộc về quyền của quốc gia Việt Nam, là thành viên các công ước và các nguyên tắc cơ bản của LHQ. Đồng thời việc giải thích nội dung các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Tòa CIJ. (Các điều ước quốc tế liên quan gồm : Công ước Drago-Porter 1907, Hiến chương LHQ điều 2 khoản 4 ngày 26-6-1945, hay Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ 18-11-1987). Đặc biệt các yêu cầu này không liên quan đến các bảo lưu của TQ về việc phân giải tranh chấp chủ quyền bằng trọng tài quốc tế.

Mục đích việc yêu cầu Tòa tuyên bố, nếu thành công (điểm 3), sẽ đưa quần đảo Hoàng Sa (không có tranh chấp, theo TQ) vào tình trạng « có tranh chấp ». 

Nếu VN thua, tức Tòa không tuyên bố (không có ý kiến), thì VN cũng không có gì để mất. Trong vụ yêu cầu Tòa tuyên bố này không hề nói đến chủ quyền các đảo (HS và TS) là của ai, mà chỉ nói đến việc nhìn nhận hay không nhìn nhận, danh nghĩa chủ quyền nếu việc chiếm hữu thực hiện bằng vũ lực.

Còn nếu thắng (sác xuất thắng là rất cao), VN được nhiều thứ.

Theo tập quán quốc tế, « đất thống trị biển ». Nếu các đảo Hoàng Sa là lãnh thổ « có tranh chấp » thì vùng biển phát sinh từ nó cũng có tranh chấp. Tức vùng biển từ đảo Hải Nam đến Hoàng Sa là vùng biển có tranh chấp.

Theo thông lệ quốc tế, nếu lãnh thổ có tranh chấp, việc giải quyết thường là chia hai (hay cộng đồng khai thác), mỗi bên được một phần của lãnh thổ đó. Tức là, quần đảo HS có thể chia hai, thí dụ hai nhóm Nguyệt Thiềm và An Vĩnh. VN có thể nhận nhóm Nguyệt Thiềm (phía tây) và giao cho TQ nhóm An Vĩnh (phía đông). Hải phận sinh ra do quần đảo này do đó cũng sẽ chia hai.

Đó là cái lợi thứ nhất. 

Cái lợi thứ hai ở Trường Sa. Nếu tòa tuyên bố, thì TQ không có chủ quyền tại các đảo của VN tại TS. TQ sẽ không thể tuyên bố vùng « nhận diện phòng không » trong khu vực này được.

Cái lợi thứ ba, là VN dành được tính « chính đáng ». Nhiều người cho rằng các phán quyết của Tòa cũng không làm gì, nếu TQ không tuân thủ. 

Thực ra phán quyết của Tòa có tầm quan trọng rất lớn. VN có thể dùng các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình. Việc « bảo vệ » ở đây mang tính tự vệ chính đáng, được hiến chương LHQ công nhận.

Đây là một việc làm ít tốn kém, đáng lẽ không cần phải đưa ra một tổ hợp luật sư nào. Tuy nhiên, để nắm chắc phần thắng, đơn không bị bác do lỗi thủ tục, VN nên thông qua một tổ hợp luật sư chuyên môn ở HK.





[i] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page 123.
[ii] Monique Chemillier-Gendreau, sdd, tr 123.
 
(par Truong Nhan Tuan : http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/09/xay-dung-ho-so-lich-su-va-phap-ly-ve.html )

vendredi 26 septembre 2014

Nguyen Thi Loan - Candidate Miss World 2014 (3)



Source image : http://www.baomoi.com/Nguyen-Thi-Loan-Minh-Vuong-mang-Nu-sinh-trong-mo-den-DH-Ha-Noi/59/8491154.epi

Hi Loan và các bạn !

Mình nói tiếp về các câu trả lời phỏng vấn của Loan, tất cả đều rất ổn. Mình rất thích câu trả lời về việc lần đầu tiên giao tiếp với người nước ngoài và muốn khai triển nó thêm.

Nhận xét của Loan rất là tinh tế đấy, mình thích lắm. Xưa nay ở Việt Nam ta học ngoại ngữ là chỉ nghĩ đến ngôn ngữ thôi, nhưng thực ra khi hai ngôn ngữ tiếp cận với nhau, là ẩn chứa phía sau mỗi người nói là cả một nền văn hóa (mình cũng rất thích câu Loan nói về bề dày và tính đa dạng của Văn hóa Việt Nam). Chính vì vậy mà khi ta học và giao tiếp bằng ngoại ngữ, là cả một nỗ lực lớn để hiểu không những một cá nhân, mà cả một nền văn hóa của anh/chị ấy (và cũng để cố gắng làm cho người ta hiểu mình nữa). Loan đã xem trên site BBC cái bài đối thoại bàn tròn trong đó có anh Jonathan London và một ông dịch giả nhà văn người Tiệp Khắc nói tiếng Việt chưa? :-D Nếu nhắm mắt lại mà nghe thì tưởng ông nhà văn là một ông trí thức già người Hà Nội, còn anh J. London thì thấy rõ là ảnh rất thích Việt Nam. Khi mình học và giao tiếp bằng một ngoại ngữ không phải là chỉ để buôn bán làm ăn, thì ta đã thấy cái tình của người học đối với những người của nền văn hóa kia.

Cho nên cá nhân mình thì mình tin rằng việc học ngoại ngữ làm cho các dân tộc gần nhau hơn, hiểu nhau hơn, và đồng thời cũng hiểu những giá trị của chính mình hơn. Chắc vì thế mà cũng bớt đi việc chém giết nhau hơn.

Khi đọc câu trả lời của Loan, mình nghĩ đến một cô gái trẻ xinh đẹp hồn hậu khoan dung, sinh ra ở làng quê Thái Bình trù phú (ngay tên Thái Bình cũng đã hay rồi), cô ấy đã luôn nỗ lực rèn luyện bản thân và nghĩ đến mọi người, từ làng quê cô ấy đã đi ra thành phố và đi ra thế giới, mang theo mình tất cả những vẻ đẹp mà cô ấy đã hấp thụ được. Loan là một hình ảnh đẹp của một sứ giả của hòa bình và hội nhập. Loan cứ tiếp tục như vậy nhé, gạt phăng bọn xấu xa nhỏ mọn, không ai có thể cản được bước tiến của ta !

Bổ sung thêm :-) :

Việc Loan là bà chủ của một nhà hàng bán ốc và thủy hải sản nói chung cũng rất là hay, mình nghĩ các cô bạn của Loan sẽ rất thích thú đấy. Nhân dịp đó giới thiệu cho họ về văn hóa ẩm thực Việt Nam, vài nét thôi, ví dụ như nước mình có nền nông nghiệp lúa nước, khí hậu nhiệt đới, bờ biển dài, nên thức ăn chủ yếu của dân mình là gạo (bao nhiêu là loại gạo khác nhau !), rất nhiều rau trái, thủy hải sản. Thức ăn của Việt Nam nổi tiếng thế giới đấy, hơn cả Trung Hoa, ngang bằng Pháp, mình nghĩ thế, và mình rất mong chúng ta chú ý đến thế mạnh này để trở thành "đầu bếp của thế giới", làm cho mọi người được ăn ngon, khỏe mạnh và sung sướng. Đồ ăn cũng rất lành mạnh, đa dạng, tốt cho sức khỏe, nếu không tẩm đầy hóa chất vào :-(

Loan đọc bài này thử xem : http://www.rfavietnam.com/node/2210 (nói về thức ăn và văn hóa quê hương).

jeudi 25 septembre 2014

Nguyen Thi Loan - Candidate Miss World 2014 (2)


Image

Source image : http://missosology.info/~missyorg/forum/viewtopic.php?f=0&t=510131

Hi Loan, tình hình hơi "tình hình" nhỉ? Loan tìm hiểu xem vấn đề là ở đâu và cố gắng thương lượng giải quyết nhé, liệu có nhờ được ai giúp đỡ không? Loan can đảm lên, một mỹ nhân thực sự thì phải vượt mọi áp lực. Người xưa nói mỹ nhân như danh tướng thật là không sai đâu.

Loan suy nghĩ một chút về món quà tặng đem tới đấu giá ở MW, rồi mình sẽ nói ý kiến của mình. Món quà ấy nó phải nói lên được về bản thân Loan, về quê hương của Loan và phải làm vui lòng bạn bè thế giới.

Bây giờ mình nói về đoạn giới thiệu Loan trên MW. Đoạn giới thiệu rất tốt, nhẹ nhõm dễ thương, đúng tính cách của Loan đấy, không cần sửa gì đâu. Nhưng mình có vài ý để Loan suy nghĩ : việc nói Loan sinh ra ở làng quê Thái Bình là rất hay, nên sau đó nói "nhưng mà" (but) cô ấy đã chuyển ra sinh sống tại Hà Nội vào năm 14 tuổi. Chữ "but" cho người ta cảm giác có vẻ như là Loan phải biện minh cho việc mình sinh ra ở quê và bây giờ đã ra thành phố rồi. Nếu Loan để ý một chút, Loan sẽ thấy là những người đẹp thực sự đều sinh ra ở quê, hai cô Đặng Thu Thảo chẳng hạn, và nhiều cô khác nữa. Ngay cả ở bên Pháp cũng vậy, mình chưa từng thấy một cô HH Paris Ile-de-France nào đoạt giải HH cả. Dường như là các cô sinh ra ở đồng quê các cô ấy được ăn uống lành mạnh hơn, hoạt động nhiều hơn và tâm hồn phóng khoáng hơn các cô ở thành phố, nên nhan sắc đẹp đẽ hơn.

Tất nhiên có thể là câu cú tiếng Anh như vậy thôi, nhưng mình muốn Loan yên tâm tự hào về việc sinh ra ở làng quê. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nói là tâm hồn của Việt Nam được tìm thấy ở những nơi làng quê xa xôi nhất. Nếu có chút thời gian, Loan đọc vài tác phẩm của ông ấy, ngắn thôi, trong Tủ sách Những chuyện đồng quê, Loan sẽ thấy cảm giác rất là thanh khiết, giàu tình người.

Tấm hình trên đây rất đẹp, Loan thấy không? Cân đối, nhẹ nhõm, dáng người thẳng, bầu ngực quyến rũ, hai cánh tay khoanh nhẹ lên nhau rất đẹp. Mình rất thích khi Loan có ánh mắt như vậy, rất mạnh mẽ thẳng thắn mà lại ấm áp tươi cười. Tóc uốn như vậy là rất đẹp đó Loan. Tức là uốn xoăn lọn lớn nửa dưới, còn nửa trên để thẳng để người ta biết là tóc Loan thẳng. Người phương Tây họ rất mê mái tóc thẳng của ta, nhưng mà tóc thẳng thì rất khó chải bới kiểu cách, mà trong sinh hoạt hàng ngày, Loan không thể dành quá nhiều thời gian để trau chuốt mái tóc được.


Loan xem lại những tấm hình trong site web mà mình để trên đây. Tất cả những tấm hình ấy đều toát lên một nét đặc biệt rất là "Nguyễn Thị Loan" đấy. Ắt hẳn đó là nét quyến rũ làm cho anh admin xiêu lòng :-D Loan thử cảm nhận mà xem. Theo mình, đó là nét hồn nhiên, tươi trẻ, nhẹ nhõm của Loan.

Luyện tập trau giồi không ngừng nhé ! Bises ! :-)

mercredi 24 septembre 2014

Nguyen Thi Loan - Candidate Miss World 2014


Nguyễn Thị Loan chính thức dự thi Hoa hậu Thế giới 2014

Tuyệt vời, mình rất xúc động ! Chúc mừng Loan, chúc mừng Elite, cảm ơn ngài Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch !

Tấm hình trên MW tuyệt đẹp, rất chân phương, tươi trẻ và trong sáng. Loan phải cảm ơn người nào chụp bức hình này đấy, vì người ấy thấy và thể hiện được vẻ đẹp của Loan. Loan có làn da căng mịn, đôi môi đầy đặn, môi trên hơi cong rất duyên dáng, chân mày cao và thanh thoát. Chiều cao 1m76 là tuyệt vời, mình đọc lâu rồi thấy nói là người Pháp họ cho là chiều cao của các cô gái từ 1m72 tới 1m76 là đẹp nhất, hơn hoặc kém là tỷ lệ cơ thể không đẹp nữa (tất nhiên là cũng có ngoại lệ, HH Pháp năm nay cao 1m81). Mái tóc Loan tuyệt đẹp, nụ cười tuyệt đẹp.

Mình sẽ bình luận kỹ hơn các hình ảnh của Loan và hình ảnh của các thí sinh khác nữa. Ngay lúc này thì Loan phải chú ý sao cho từ nay trở đi không bị té ngã bong gân trật khớp, không bị stress quá kẻo đau ruột thừa. Thời gian cũng không còn nhiều, may mà Loan đã chuẩn bị sẵn sàng :-)  Mình sẽ nói về món quà Loan sẽ mang tới MW, chủ yếu là ý tưởng thôi.

Chúc mừng Loan lần nữa, bises et bon courage ! :-)









Nguyen Thi Loan- Trang phục dân tộc

Ôi Loan ơi, mình vừa vào xem site này : http://missosology.info/~missyorg/forum/viewtopic.php?f=0&t=510131, cái anh admin chắc là ảnh phải lòng Loan chí tử, anh ấy kiếm đâu ra bao nhiêu là hình của Loan, mỗi hình một vẻ, đẹp đẽ biểu cảm tuyệt vời. Loan ơi kỳ này đi thi MW Loan giành giải Hoa Hậu đem về cho dân Việt Nam mình phát cuồng lên một trận nữa như hồi GS NBC giành giải Fields ấy :-D

Mình gợi ý Loan là trang phục dân tộc Loan nên chọn áo tứ thân thật nhiều màu sắc tươi thắm, quấn tóc đuôi gà, trên cái vành khăn Loan gắn một hai bông hoa thật là rực rỡ vào, cắp nón quai thao, Hoàng tử Harry chắc cũng mất ăn mất ngủ luôn.

Nhất là không được chọn những cái áo dài đen vẽ rồng trông rất ghê tởm nhé ! Nói chung là cái đám rồng ngoằn ngoèo ấy thì Loan đừng bao giờ khoác lên người, mà dân Tây nghe nói rồng là họ ghét lắm, vì nó tượng trưng cho quỷ dữ, mặc dù rồng của họ cũng không giống rồng của mình. Loan nên chọn hình chim phượng nếu muốn, nhưng mình sẽ thích hình chim Diệc trên mặt trống đồng của mình hơn.

Image